Nam Kỳ ký ức: hàng ba

“Đêm đêm ra đứng hàng ba. Trông về quê mẹ lệ sa buồn buồn…”

“Hàng ba” là từ chỉ xuất hiện  ở Nam kỳ và có thể gọi là phương ngữ nam kỳ. Nếu như ở miền Bắc hay Trung, người ta xài từ “thềm nhà” hay “hành lang”, thì người Nam kỳ xử dụng từ nầy, nghe loáng thoáng đâu đó vẫn thân thương và gần gũi hơn.

Kiểu nhà thông dụng nhứt ở đây là kiểu nhà 3 gian 2 cháy, kiểu chữ đinh. Hàng ba chiều ngang bằng với chiều ngang ngôi nhà, nhưng dài chỉ từ một mét rưỡi đến hai mét (1,5 – 2m), được rào bởi xi măng và những bông gió thâm thấp, trên là những miếng gạch hai tấc tạo thành cái bệ dài. Chủ ý hàng ba không phải ngăn kẻ trộm, mà là bệ ngồi cho bạn bè chiều chiều nhảy phóc lên hàng ba tán dóc, chuyện trò…

Với đám nhóc chúng tôi, hàng ba là một sân chơi đầy thú vị những ngày hè hoặc sau giờ học. Hàng ba là nơi con gái chơi nhảy dây, lò cò, tạt lon; tụi con trai thì chơi tạt lon, bắn kè; là chổ mẹ ngồi lựa thóc hay chảy tóc cho con gái mỗi bữa trưa hè.

Như trong đoạn cải lương trong tuồng Nửa đời hương phấn, đoạn chị em The với Diệu tâm sự cùng mẹ ở chùa, cảnh bà mẹ mô tả cảnh gia đình quấn quít ngoài hàng ba mà muốn khóc.

 

Quốc lộ 50: Đọc sử bằng cách đi đường (6)

Lộ Dương ở Gò Công

Chúng ta bắt đầu từ bên kia bắc Mỹ Lợi -Cầu Nổi, con lộ “ngựa trạm” xưa –rồi liên tỉnh lộ 5-nay là quốc lộ 50 xuất phát từ địa đầu tỉnh Gò Công. Người Gò Công xưa và nay lúc nào cũng hướng về Sài Gòn hơn Mỹ Tho, mặc dầu Mỹ Tho gần Gò Công hơn Sài Gòn, thành ra ai cũng qua bắc Cầu Nổi, bước qua cái lộ này hết.

Quốc lô 50 xưa khúc từ Cầu Nổi băng qua chợ Mỹ Lợi, đi ngang Xóm Tre của làng Bình Thạnh Đông xưa rồi qua cầu Sơn Qui, gò Sơn Qui (Tân Niên Trung) của nhà họ Phạm chạy về tỉnh lị Gò Công xưa.

Hai bên lộ trồng toàn là cây dương tức cây phi lao lâu năm, cây bự, tán rông và cao, lá xanh nhuyễn nhừ nhọn hoắc như kim may. Dân Gò Công đặt tên con lộ này là ‘Lộ Cây Dương”, lâu ngày gọi tắt là Lộ Dương

Lộ Dương hồi xưa rất thưa thớt người đi lại, nhà cửa hai bên không có nên vắng ngắc. Gò Công là tỉnh đò giang cách trở, “hốc bà tó” nên du khách ít ghé thăm. Trên đường thỉnh thoảng có chiếc xe ngựa. Hồi bà nội còn sống, bà hay kể hồi đó từ nhà mình đi vô thị tứ Gò Công hơn 15 cây số, hai bên đường thênh thênh ruộng lúa, khúc thì mịt mù bụi bờ nên thú dữ vô số. Khúc gần ngã Ba Bình Xuân có một cái mả bên phải vệ đường, nghe nói đâu là mả cũng một ông chuyên giết hổ trong vùng, sau dân thờ tự và đấp mã cúng cho tới ngày nay.

Nhà kiểu Gò Công- ngã Ba Bình Xuân

Ông Hồ Biểu Chánh miêu tả :”Trên lộ Cây Dương xe ngựa đưa người núc ních chạy chậm rì, tiếng lục lạc nhỏ khua xa xa nghe như tiếng nhái”

“Thiệt như vậy, giồng Sơn Quy đầu trong vô tới mé sông Gò Công, còn đầu ngoài đụng con đường quan lộ Gò Công lên Chợ Lớn. Hiện giờ du khách đến đó thì thấy dân cư thưa thớt, nhà cửa xơ rơ…” (Hồ Biểu Chánh)

Đường vô Tân Niên Trung

Lộ Dương chạy thẳng vô khu trung tâm Gò Công xưa. Tại đây có sân banh, dinh chánh tham biện, trường học, tòa án, khu này có mấy cái ao trữ nước mưa cho các công sở gọi là Ao Thiếc.

Dinh chánh tham biện Gò Công là tòa nhà hình bánh ú kiểu Tây, một tầng lầu được xây trong khuôn viên khá rộng

Năm 1864, Đô đốc De la Grandière thiết lập các Sở tham biện (hạt thanh tra or tiểu khu) ở Nam Kỳ do quan người Pháp coi sóc. Từ năm 1865, Nam Kỳ có các tham biện sau : Sài Gòn, Chợ Lớn, Cần Guộc, Tây Ninh, Gò Công, Tân An, Mỹ Tho, Cai Lậy, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Long Thành, Bảo Chánh, Bà Rịa.

Như vậy hạt tham biện Gò Công đã có từ 1865. Đứng đầu hạt tham biện là quan chánh tham biện người Pháp và khu vực của chánh tham biện được gọi là sở tham biện. Năm 1874 thì gọi là ‘địa hạt”, sau 1900 thì gọi là tỉnh, quan đứng đầu là ‘chủ tỉnh”

Dinh tỉnh trưởng Gò Công – đọc thêm ở đây 

Gò Công là tỉnh nhỏ xíu. Theo tài liệu “Annuaire de la Cochinchine Française, 1887”thì năm 1887 Gò Công có 64.170 người An Nam, 13 người Pháp, 588 người Tàu và 14 người Ấn Độ. Dinh chánh tham biện nằm quay mặt tiền ra đoạn đầu của lộ Hộ Mưu sau 1954 đặt là đường Thái Lập Thành. Mặt tiền dinh đâu mặt với trường trung học công lập Gò Công(trường Trương Định) bên phải của dinh là Lộ Dương và sân banh Gò Công.

Xa xa phía sau trái của dinh là cái tháp chuông cao vút của nhà thờ Thánh Tâm xây năm 1940. Chạy từ cầu Sơn Qui theo Lộ Dương quẹo đường Gia Long, vô Tổng Tứ qua cầu sắt Long Chánh về Mỹ Tho.

Phong Việt

 

Thú vui mới

Con lộ trước chung cư vừa mở ra làm chặng đường từ nhà sang Phú Mỹ Hưng gần và tiện hơn. Sẳn tiện một chiều chủ nhựt đẹp trời, bỏ túi 100k, xách xe đạp chạy một vòng, phần cũng muốn khám phá mấy ngóc ngách lâu nay không có dịp đi qua, phần cũng “bồi bổ” cơ thể vốn dĩ lười vận động lâu nay.

Ai ở gần khu nầy có thể lập hội được nè, cuối tuần dành một ít thời giờ chạy cũng thú vị lắm 🙂

Coi lợi tuồng cải lương: LƯƠNG SƠN BÁ CHÚC ANH ĐÀI

Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài là một tích Tàu khá nổi tiếng mà chắc ai trong chúng ta cũng từng nghe qua. Trong cải lương, tuồng nầy cũng khá nổi tiếng, nhứt là trong phong cách cải lương Hồ Quảng.

Lạm bàn

Thường người ta phân loại ra ba loại tuồng cải lương: xã hội, dã sử và Hồ Quảng. Tự Ðiển Mở Wiki gọi “cải lương Hồ Quảng” bằng một tên nữa là “cải lương tuồng cổ.” Cái tên nầy giúp người ta hiểu được tổng quát về nội dung của loại hình nghệ thuật trình diễn nầy. “Cải lương Hồ Quảng” cũng là cải lương, nhưng tuồng tích dựa vào những tuồng cổ, mà thường là tuồng cổ Tàu.

Nhiều người cho là nó không thuần Việt và hoàn toàn Tàu, mình thì không đồng ý quan điểm trên. Rõ ràng có sự vay mượn nhưng hoàn toàn mang một sắc thái riêng. Có thể nói đây là loại hình cải lương có nguồn gốc phức tạp từ cải lương Nam Kỳ, hát bội, Kinh kịch, kịch Quảng Đông, võ thuật, nhạc Đài Loan… Tuy nhiên, qua cách trình diễn của các nghệ sĩ An Nam, tất cả các loại hình nghệ thuật nầy phối hợp nhuần nhuyễn với nhau, tạo thành một sắc thái riêng. Khán giả thưởng thức một vở tuồng diễn theo lối cải lương Hồ Quảng nhìn thấy ngay là nó rất Việt Nam, không lẫn với ca kịch Trung Hoa được. Ðó là cái tài của người nghệ sĩ, mà đó cũng là cái đặc thù của văn hóa Nam Kỳ, đón nhận cái của người, nhưng biến hóa nó, thăng tiến nó để nó hay hơn, đẹp hơn mà lại có tính chất Việt Nam.

Lương Sơn Bá- Chúc Anh Đài

Tích Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài về nàng Chúc xinh đẹp cải nam trang đến Nghi Sơn học tập, vô tình cờ gặp gỡ một thư sinh thật thà là Lương Sơn Bá. 3 năm học hành với nhau, Chúc sanh tình với họ Lương nhưng Lương Công tử hoàn toàn không nhận ra. Ngày chia tay, Chúc hứa sẽ mai mối em gái cho Lương. Khi Lương đến thì mới biết người con gái đó chánh là Chúc Anh Đài.

Tưởng chừng đến được với nhau, nhưng họ Chúc đã được phụ mẫu hứa gã cho Mã Văn Tài cũng là đồng môn hồi ở Nghi Sơn. Phiền muộn, Lương Sơn Bá qua đời khi đương nhiệm quan tri huyện. Ngày rước dâu ngang qua mộ chàng Lương, bỗng cơn cuồng phong nổi lên, mộ phần Lương Sơn Bá mở ra và Chúc Anh Đài đi vào trong đó. Sau đó, từ trong mộ, một đôi bướm rất đẹp quấn quýt bên nhau và cùng bay đi, bên nhau hạnh phúch.

Tuồng cải lương

Mình coi tuồng nầy lần đầu do Phượng Mai diễn hồi còn truyền hình đen trắng, giờ kiếm lại video đó thì không hấy nữa. Cũng nói thêm, trong các nghệ sĩ cải lương thì Phượng Mai được mệnh danh là Hồ Quảng chi bảo. Mình nhớ hoài một giọng ca thanh trong, một vóc dáng nhỏ nhắn, một gương mặt thanh tú . . . tất cả đã tạo nên một Phượng Mai tài sắc vẹn toàn, một nét riêng không lẫn với bất kỳ nghệ sỹ nào.

Coi Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài dễ thấy nhứt sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cải lương nguyên thủy, ca kịch Quảng đông kết hợp vũ đạo và nhạc truyền thống Nam Bộ.

Dưới đây là trích đoạn hay lúc Lương Chúc tạn mặt và kết nghĩa huynh đệ, tên đường  đến Nghi Sơn. Lớp diễn cũng khá hay với tài ứng biến và tung hứng của Vũ Linh và Kim Tử Long.

 

Đôi đũa Hàn Quốc

Đũa là dụng cụ dùng để ăn phổ biến trong văn hóa Á Đông, thiết kế của chúng rất phù hợp với thói quen ăn uống của người Á Đông. Xử dụng đũa để ăn là một nét văn hóa, ngày nay cả Đài Loan, Nhật Bản, Việt Nam và Hàn Quốc đều có văn hóa dùng đũa, nhưng do ảnh hưởng của lịch sử và văn hóa bản địa mà đũa ở các nước nầy không giống nhau. Riêng ở Hàn Quốc, đôi được thường là kim loại, bạc, dẹp và rất khác so với đũa của Việt Nam hay Tàu.

 

Trước đây lúc còn làm việc cho công ty Hàn Quốc, tôi thường được mọi người chia sẻ về đôi đũa ăn cơm của người dân ở quốc gia nầy. Có nhiều giả thuyết về lý do mà người Hàn khác so với phần còn lại của các nước có xử dụng đũa, nhưng phổ biến nhứt có thể kể tới:

  • Đó là thời kỳ các gia đình hoàng tộc dùng đũa bạc để thử độc trong đồ ăn. Kế hoạch của kẻ thù sẽ bị lụi bại nếu đũa bạc đổi màu vì có hiện tượng hóa học xảy ra giữa bạc và chất độc. Người ta tin rằng dân chúng cũng học theo vua chúa và dùng đũa kim loại từ đó.
  • Giả thuyết khác là người Hàn họ ăn rất cầu kỳ, nhiều món nho nhỏ. Những người vợ xưa thường sẽ phải hầu chồng ba bữa cơm, sau khi nấu xong dưới bếp, họ đều tự mình để từng đĩa lớn bé lên một chiếc bàn nhỏ bưng lên cho chồng, vì thế đũa dẹp sẽ tránh được việc đũa lăn đi.
  • Lại có một giả thuyết khác là món khác như đồ nướng, hải sản rất phổ biến trong văn hóa ẩm thực Hàn Quốc, đặc biệt là các loại canh hay thức ăn tẩm gia vị tương ớt, có màu đỏ hay mùi mắm. Do đó dùng đũa kim loại sẽ không bị bắt lửa khi nướng, lại dễ dàng lau rửa.

Tuy nhiên trong chuyến đi Hàn Quốc vừa rồi, anh bạn người Hàn lại chia sẻ với tôi 2 giả thuyết khác khá thú vị về thiết kế đặc biệt nầy.

Sơ về Triều Tiên cận đại, trước thời Nhựt đến Triều tiên (1910) có thể tìm hiểu ở đây, đại khái cho dễ hiểu:

Trào TÂN LA Silla (668-935)
Trào CAO LY Koryo (918-1392)
Trào TRIỀU TIÊN Choson (1392-1910)

Ở hầu hết các giai đoạn này, người dân Triều Tiên đều trải qua những giai đoạn cực kỳ khó khăn của nội chiến và ngoại xâm. Lịch sử Triều Tiên hiện đại cũng là cuộc nội chiến khốc liệt giữa miền Nam và miền Bắc. Để giáo dục người dân về tinh thần đó, gợi nhắc về thời khó khăn kham khổ, người dân quốc gia nầy đã dùng đôi đũa dẹp, mỗi miếng ăn gắp lên là một khó khăn. Để ý trong văn hóa người Hàn, họ luôn trân trọng từng miếng ăn, không có chuyện dưa thừa trong các bàn tiệc.

Một lý do khác, việc xử dụng đôi đũa dẹp làm kích thích lên các dây thần kinh ở đầu ngón tay, việc nầy cũng kích thích việc ăn ngon và tiêu hóa cũng tốt hơn.

Đôi điều được nghe qua, thấy hay và muốn chia sẻ.

Qua đường

Hôm nay có dịp đi chung người bạn ngoại quốc, ảnh chợt nói một câu làm mình bật ngữa “ê Phong, tao biết cách qua đường của người Việt Nam của tụi mày rồi á”. Lúc nầy mình há hốc lên, thì anh bạn giải thích thêm “tụi bây cứ nhắm mắt rồi qua đường, vì biết là mọi thứ chung quanh sẽ né tụi mày, đúng vậy không?”. Mình mới nghĩ trong bụng “hehe, mày nói xéo tao chứ gì?!?”.

Mà đúng thiệt, tụi nước ngoài hay ngạc nhiên về “khả năng” nầy của người Việt mình, cái mà mấy ông ngôn ngữ học hay gọi là “văn hóa tiểu nông”. Kiểu văn hóa “tiểu nông” làm cho con người thường suy nghĩ một cách đơn giản. Ừ có vấn đề gì đâu, thì cứ đi đi theo ý của mình, xe khác có trách nhiệm thấy mình qua đường là phải né, đằng nào mình cũng là người đi bộ, xe cộ thì có trách nhiệm bồi thường nếu có tai nạn… Có hằng trăm lý do để bào chữa cho việc nầy. Tuy nhiên nếu đặt người đó ở một quốc gia khác như Singapore, Mã Lai hay Xiêm La, thì câu chuyện nó trở nên hoàn toàn khác.

Trong công việc cũng vậy, mình quan sát thấy là rất nhiều người trong chúng ta thường có thói quen tùy tiện trong công việc, rằng cứ làm đi cho xong việc, chuyện người khác người khác lo, cần gì bận tâm. Tính chủ quan, dựa vào khả năng ứng phó, tài xoay xở của mình, không nhìn xa trông rộng, quan niệm “tới đâu hay tới đó” cũng là biểu hiện của văn hóa “tiểu nông” nầy.

Bởi vậy đừng hỏi tại sao chỉ thấy đa phần tụi Ấn, Phi hay Thái làm lãnh đạo ở những tập đoàn lớn mà ít thấy người Việt mình, âu cũng có lý do của nó cả các bạn ah!

Tháng Giêng đi đình Phú Mỹ – Nhà Bè (3)

Một phần quan trọng của cúng đình là phần đọc văn tế thần. Tìm hiểu thêm thì biết thêm khá nhiều điều thú vị.

Văn tế thần thường chia thành 2 phần: lòng linhlòng văn.

  • Lòng Linh là phần liệt kê tên của các vị thần được mời tới chứng giám. Lòng linh sẽ khác nhau giữa các đình, ban hội tề thường là những người sẽ cung ứng phần lòng linh nầy.
  • Lòng Văn là những lời cầu nguyện, ca ngợi công đức các vị thần, cảm tạ các vị đã ban phước cho chúng sanh. Thường phần lòng văn sẽ có một “format” nhứt định, các thầy lễ thường cũng cọp dê qua lại sao cho phù hạp với xứ của mình.

Được biết văn tế xưa phải viết bằng chữ nôm trên giấy hồng điều. Nhưng ngày nay không mấy người biết chữ nôm nên người ta viết chữ quốc ngữ, nhưng vẫn phiên âm theo kiểu chữ nôm hơn là bằng kiểu thuần Việt.

Đây là phần mình nghe và chép lại ở đình Phú Mỹ, lúc được lúc không, sẽ có chổ sai chánh tả do cổ ngữ. Kèm đó là phần dịch trại do ông bác dưới quê hỗ trợ và điều chỉnh.


BỔN VĂN CẦU LỆ ĐÌNH THẦN PHÚ MỸ- NHÀ BÈ

Duy.

Tuế thứ, Đinh Dậu niên, Canh Ngọ nhựt lương thần.

An Nam quốc, Gia Định tỉnh, Nhà Bè quận, Bình Thị Hạ tổng, Phú Mỹ Tây thôn.

Hiệp toàn bổn viên quan: niên hương Nguyễn văn Nghiêm, chánh tế Trương Văn Toạ, bồi tế Nguyễn Hiếu Nghiệm, toàn bổn viên quan viên chức bổn điền chư hiệp giả, nam phụ lão ấu đồng đẳng. 

 

Cẩn vỹ cang lạp, tư nghị, chước, kim ngân, hương đăng hoa quả, phẩm vậy chi nghi. 

Hôm nay ngày Canh Ngọ, năm Đinh Dậu, chọn giờ lành chúng tui toản thể nam phụ lão ấu, các viên chức ……. cùng các giới thuộc thôn Phú Mỹ Tây, tổng Bình Thị Hạ, Quận Nhà Bè, tỉnh Gia Định, nước An Nam đều tề tụ về đây, kính trình lễ vật gồm xôi rượu vàng bạc nhang đèn hoa quả.

 

Cảm chiêu cáo vu.

Kính dưng lời khẩn tỏ cùng

Thiên địa thần ký tôn Thần, sơn xuyên nhạc độc tôn thần, bổn cảnh thần hoàng tôn thần, bổn cảnh bổn xứ thổ địa tôn thần hiệp toàn phước thần chư vị, tế dương niên hành khiếu hành binh tôn thần, hữu ban tả ban liệt vị tôn thần, ngũ phương thổ công-thổ chủ chi thần, ngũ hành tiên nương chi thần, thần nông hậu tắc tôn thần, sơn lâm chúa tể mãnh hổ đại tướng quân, chúa ngưu mang nương chư vị, lang lại đại tướng quân chư vị, cổ nhơn hiển thánh chi thần, tiền hiền hậu hiền khai khẩn chi vị, viên quan chức sắc hương chức tiền vãn chi vị, chiến sĩ trận vong chi vị, viết minh minh linh đức chi thiên địa.

   —– y như chữ Nôm——-

 

Tư nhơn tiết giới trọng xuân, lễ đặc trần hy sinh thiết, tải ca xướng tế cáo. Nhất diêm, tỷ xí tỷ xương, vĩnh bảo lâng trung khang thái, viết phú viết thụ.

Hôm nay nhơn tiết giữa trời xuân, chúng con bày ra lễ vật, trình ca xướng hát để khẩn xin chư vị để giúp đỡ bà con làm ăn hưng thịnh, an khang mạnh dõi.

Quốc thới dân an tăng phước chỉ, phòng điều võ thuận hưởng an ninh. Nhựt nhựt thạnh cường tam nông ủy vọng. Gia gia cấp túc vạn vật toại sanh. Hựu thôn trung phú hữu, bảo hương nội hòa bình.

Nước nhà thái bình, nhân dân an lạc là cái nền thêm phước. Lại thêm mưa thuận gió hòa, miền miền được an ninh, ngày thêm thịnh vượng hùng cường. dân sống sung túc, bảo hộ khắp nơi hòa bình

 Ngưỡng lại thánh thần chi gia huệ giã, phục duy cẩn cáo.

Cuối xin tôn thần ban phước. Kính cẩn khấu đầu bái chư liệt vị!

Lý Sơn- đánh nhanh rút gọn 1 ngày

Lý Sơn Quảng Ngãi sẽ không quá xa lạ với mọi người, với mình đó là chuyến đi hành xác vì phải ói mật xanh mật vàng cả 2 bận đi ra và đi về.

Cảnh đẹp, còn hoang sơ, đầy rác, đồ ăn tươi ngon, người dân địa phương thân thiện, khách là BK nhiều- là những cảm giác đầu tiên về hòn đảo.

Cập nhật trước mấy hình ảnh, sẽ có bài khác tìm hiểu nhiều thứ thú vị về đảo sau.


Điều giản dị

Đôi khi phát hiện hạnh phúc là những gì giản dị nhứt!

Hạnh phúc đôi khi chỉ đơn giản là khi bước vào thang máy một sớm mai, cô bé chừng 4 tuổi ngước nhìn, nở nụ cười rồi mở lời ngọng nghệu “chú đi làm vui vẻ nhé”

Là một buổi chiều ngẫu nhiên cô đồng nghiệp mang tới tận bàn chai dầu trị gàu kèm lời trách móc “ê mậy, xài đi chứ đi ăn cơm gàu mày bay đầy dĩa cơm tao”.

Là vào một trung tâm mua sắm, đôi vợ chồng người Hàn Quốc đầy tâm huyết với cửa hàng ăn uống nhỏ của mình. Thỉnh thoảng cô quay qua lau cho chồng mình mấy giọt mồ hôi vương trên tráng, rồi chú quay lên rồi cười phá lên hạnh phúc 🙂

Là những lúc chạy xe trên đường phát hiện chú Grab quên gạc chóng, cố chạy lên nhắc cho bằng được rồi nhận lợi của chú nụ cười kèm câu cảm ơn ngọt sớt. Hay là lúc xếp hàng bên cạnh một chị gái thiệt sang trọng nhưng kém duyên, chẳng ngại ngần nói nhỏ vào tai chị “chị ơi, hàng còn dài, chị quay lại xếp hàng nha”, một cảm giác rất lạ!


Đó, đôi khi con người ta hay kiếm tìm cái gì đó xa xôi, trong khi chánh những điều đơn giản đó mới làm nên cuộc sống hằng ngày của chúng ta thi vị. Bớt ảo vọng để về với thực tại mới là hạnh phúc 🙂

Nhơn một chủ nhựt rảnh rang!