Hàn Quốc: mùa bông anh đào

Lần trở lại Hàn Quốc sau 7 năm, quá nhiều nhiều thay đổi.

Cũng thiệt may mắn khi trở lại đúng mùa bông anh đào nở, rợp cả vùng trời 🙂

Biểu tình ủng hộ Nữ tổng thống Park

Trai Hàn Xảng :))

 

Giỗ ông Định ở Gò Công

Cách đây mấy bữa là giỗ ông Trương Định, đi dọc Gò Công thỉnh thoảng sẽ thấy nhà dân bên đường đem hình ông ra trước nhà lập bàn hương án với nhang đèn, trái cây rất nghiêm chỉnh. Không biết có can thiệp của chánh quyền không, nhưng âu đó cũng là tập quán tốt đẹp để giáo dục lịch sử.

Lối năm 1864, bị quân Pháp bao vây đánh úp ở Gia Thuận. Thất thủ, Trương Định rút gươm tuẩn tiết ở Ao Dinh hồi rạng sáng ngày 20 tháng 8

Mũi Dinh- Hành trình 3 ngày không điện thoại

Thời buổi ngày nay sống một ngày mà thiếu điện thoại là thấy sai sai rồi, đằng nầy lại là đi du lịch xa, phong cảnh thì hùng vĩ đẹp đẽ, thì cảm giác sẽ bức bối lắm. Thoạt đầu mình cũng nghĩ như vậy, nhưng sau lại ngộ ra lại hay, chẳng vướng bận gì, cứ thả người vô mây nước…

Chặng đường gian nan

Theo kế hoạch ban đầu là sẽ đi cùng nhóm bạn, nhưng một phần ngớ ngẩn, phần bận việc nên mình nhớ lộn ngày, thành thử phải khởi hành sau bằng xe giường nằm từ Sài Gòn ra Phan Rang Tháp Chàm. Bắt chuyến xe 12h trưa ở Hàng Xanh với cái bánh bao lót bụng, chuyến xe chạy chậm chạp qua từng dòng xe kẹt cứng ngoại ô Biên Hòa, cảm giác mắc đái mà xe cứ nhích từng centimet một thì thiệt đáng sợ!

Phù, cuối cùng cũng tới trạm dừng, sau khi làm nghĩa vụ xả nước cứu thân, tu chai nước suối một lèo hết trơn thiệt là đã!

Không có cái ngu nào giống cái ngu nào

Đối với mình, cái thú nhứt khi đi xe giường nằm là cảm giác nằm dài ra (chân ngắn nên được quyền nằm dài), trùm cái mền ngang người, gắn tai nghe, để điện thoại bên trên lan-can (thành xe) và phiêu theo từng bản cải lương :)))

Nằm một hồi, tay chân rảnh quá không biết làm gì nên khều khều cái điện thoại. Độp! một âm thanh nhẹ nhàng nhưng có phần cay cú, dòm lại, cái điện thoại “lọt khe” vô ngách xe (giữa kiếng xe và thân xe bằng thép) //// Ghi chú: bạn hình dung chiếc xe giường nằm dài cả chục thước, bên ngoài là kiếng, bên trong là khung sắt, giữa 2 lớp nầy là 1 cái khe có kích thước đúng bằng bề ngang của cái điện thoại iphone. Kiếng thì không bẻ được, mà nếu bẻ được chắc bể hết nguyên miếng kiếng, khung sắt thì cứng như đá.

Sau 1 hồi  moi móc đủ các thể loại từ dây giày, móc áo, tờ báo, xé cây chổi…mà vẫn không ra, tay chân thì đau điếng vì nhồi nhét vô cái khe thần thánh, thiệt tình là muốn khóc tiếng miên. Khách khứa xung quanh cũng nhiệt tình, ai cũng nhiệt tình bới mói kèm vô số lời “mỉa mai” . Sau gần hai tiếng cố gắng, mọi người bỏ cuộc. Mình nằm thẩn thờ, nghĩ thầm là năm nay năm tuổi nên xui, xác định luôn là mất điện thoại, chặng đường ra Phan Rang còn hơn ba chục cây số mà thấy dài vô tận.

Xe tới bến, chủ xe bước ra “chị sẽ cho xe về hãng tháo lấy điện thoại ra cho em, chi phí tầm 10 triệu + chi phí nghỉ xe một ngày của chị nữa”. Nghe như sét đánh ngang tai. Nhưng biết sao giờ??? Mấy anh lơ xe thì nhiệt tình bới móc trong vô vọng. Mình chia tay xe và điện thoại trong tuyệt vọng, nghĩ trong đầu là tiêu bà nó chuyến đi!

11h đêm, điện thoại anh bạn mình reng, bên kia đầu dây báo là đã lấy được điện thoại mà không cần tháo xe. Còn phải nói lúc đó mừng muốn khóc, như ai cho ký vàng. Sau này hỏi lại mới biết là mấy anh lơ xe dùng nam châm và kéo từ từ điện thoại ra. Một sự vô tình là mình mới thay cái ốp lưng kim loại mấy ngày trước đó. Không ai ngờ luôn!!!

3 ngày sau mình quay lại lấy điện thoại, cầm trên tay mà rưng rưng nước mắt. Cũng không quên 3 thùng bia cho mấy anh nhà xe uống lấy thảo 🙂

Cái ngu nầy xin bỏ!

Bãi Tràng & Mũi Dinh

Lấy lại được điện thoại là vui rồi, đi chơi thôi!!!!!

Mũi Dinh ở làng Sơn Hải, xã Phước Dinh (huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận) chỉ cách biển Cà Ná một vòng cung núi, cách trung tâm thành phố Phan Rang – Tháp Chàm chưa đầy 40 km.

Trong thời tiết nắng gắt của vùng đất “gió như phang, nắng như rang” của Phan Rang, chặng đường đó quả là thử thách không nhỏ. Băng qua đồi cát trong cái nắng rát bỏng và cơn gió khô rang, tìm đến Mũi Dinh, bạn sẽ thấy một khung cảnh nên thơ hoang sơ hiếm hoi còn sót lại của dọc ven biển Nam Trung Kỳ hiện ngay trước mắt.

Phương tiện di chuyển vào trong bãi Tràng và hải đăng Mũi Dinh: do thời tiết quá nóng, việc đi bộ hơn cây số trên bãi cát trắng sẽ là thử thách lớn, chiếc công nông nầy có thể giúp bạn 🙂

Tiếc là mình giành không lại 2 bạn gái và quánh tù tì thua thằng ku kia nên đành ngồi sau, không được cảm giác ngồi trên cái mỏ xúc. Hehe, già nhưng vẫn còn ham vui!

Những con dốc trượt dài xa ngút tầm mắt hòa cùng màu nước xanh biếc như một bức tranh được tạo hóa sắp đặt rất khéo léo.

Ngọn hải đăng cổ xưa cao 18 thước, được xây bằng đá granit, ngọn đèn chỉ hướng cho tàu thuyền khơi xa từ Phan Rang vào Tuy Phong, là hoa tiêu cho ngư dân đặc biệt trong mùa mưa bão, đường leo lên ngọn hải đăng mất khoảng 40 phút đi bộ, vượt qua mấy con dốc khúc khuỷu dài chừng 3 cây số.

Lúc mình tới là trời đã tối, chị xe thồ chở lên hải đăng nên không nhìn rõ quan cảnh chung quanh, nhưng ngày về lúc đi xuống, bao nhiêu ngỡ ngàng ập tới khi chung quanh quá đẹp, cảm giác mình quá nhỏ bé giữa bao la đại dương 🙂

Phóng tầm mắt từ Mũi Dinh, thưởng ngoạn toàn bộ bờ biển với núi non hùng vĩ, tựa như một bức tranh nên thơ mà hùng vĩ 🙂

Lần đầu làm chuyện đó

Có vài trải nghiệm mà giờ nghĩ lại mình thấy cũng hay ho thú vị:

  • Lần đầu tiên ngủ lều, đêm đầu trên núi, đêm sau ngay bãi biển. Cảm giác giữa mênh mông trời đất, chỉ có tiếng sóng dập dìu bên cạnh, có ánh trăng e ấp bên trên, thiệt ngộ mà không biết từ ngữ nào diễn tả!
  • Lần đầu tiên cưỡi mình giữa các cơn sóng cao hơn đầu: gió lớn, biển xanh bao la, từng cơn sóng hơn đầu người đánh vào mạn tàu gây cảm giác … té đái trong quần lúc đầu, dần quen thì đỡ hơn, nhưng cũng gây cảm giác kích thích lạ lẫm. Lúc đó mình chợt nghĩ tới cảnh những người vượt biển sau 75 mà rợn người 🙁
  • Có bao giờ bạn nghĩ bạn sẽ rơi vào tình huống lạc giữa rừng sâu, không lối ra, phải đối đầu với sinh tồn bằng sợi dây, bằng chai nước??? hầu hết những kiến thức sinh tồn cơ bản đó  không ai trang bị cho chúng ta (ít nhứt với mình). Chuyến đi đã trang bị cho mình những thứ cơ bản nhứt như vậy: từ nút thắt, nhóm lửa, lấy nước, dựng lều….Chết cha, nói thì nói vậy chứ giờ quên hết rồi !

Bạn bè nào thích kiểu đi vừa khám phá, vừa được trang bị các kỹ năng sống, vừa trải nghiệm không gian còn hoang sơ đẹp bá chấy thì tour kiểu nầy thiệt là lý tưởng 🙂

Như nói ban đầu, chuyến đi nầy mình hoàn toàn không có hình ảnh, ảnh trong bài đều do vay mượn của các bạn trong đoàn.

Đôi đũa Hàn Quốc

Đũa là dụng cụ dùng để ăn phổ biến trong văn hóa Á Đông, thiết kế của chúng rất phù hợp với thói quen ăn uống của người Á Đông. Xử dụng đũa để ăn là một nét văn hóa, ngày nay cả Đài Loan, Nhật Bản, Việt Nam và Hàn Quốc đều có văn hóa dùng đũa, nhưng do ảnh hưởng của lịch sử và văn hóa bản địa mà đũa ở các nước nầy không giống nhau. Riêng ở Hàn Quốc, đôi được thường là kim loại, bạc, dẹp và rất khác so với đũa của Việt Nam hay Tàu.

 

Trước đây lúc còn làm việc cho công ty Hàn Quốc, tôi thường được mọi người chia sẻ về đôi đũa ăn cơm của người dân ở quốc gia nầy. Có nhiều giả thuyết về lý do mà người Hàn khác so với phần còn lại của các nước có xử dụng đũa, nhưng phổ biến nhứt có thể kể tới:

  • Đó là thời kỳ các gia đình hoàng tộc dùng đũa bạc để thử độc trong đồ ăn. Kế hoạch của kẻ thù sẽ bị lụi bại nếu đũa bạc đổi màu vì có hiện tượng hóa học xảy ra giữa bạc và chất độc. Người ta tin rằng dân chúng cũng học theo vua chúa và dùng đũa kim loại từ đó.
  • Giả thuyết khác là người Hàn họ ăn rất cầu kỳ, nhiều món nho nhỏ. Những người vợ xưa thường sẽ phải hầu chồng ba bữa cơm, sau khi nấu xong dưới bếp, họ đều tự mình để từng đĩa lớn bé lên một chiếc bàn nhỏ bưng lên cho chồng, vì thế đũa dẹp sẽ tránh được việc đũa lăn đi.
  • Lại có một giả thuyết khác là món khác như đồ nướng, hải sản rất phổ biến trong văn hóa ẩm thực Hàn Quốc, đặc biệt là các loại canh hay thức ăn tẩm gia vị tương ớt, có màu đỏ hay mùi mắm. Do đó dùng đũa kim loại sẽ không bị bắt lửa khi nướng, lại dễ dàng lau rửa.

Tuy nhiên trong chuyến đi Hàn Quốc vừa rồi, anh bạn người Hàn lại chia sẻ với tôi 2 giả thuyết khác khá thú vị về thiết kế đặc biệt nầy.

Sơ về Triều Tiên cận đại, trước thời Nhựt đến Triều tiên (1910) có thể tìm hiểu ở đây, đại khái cho dễ hiểu:

Trào TÂN LA Silla (668-935)
Trào CAO LY Koryo (918-1392)
Trào TRIỀU TIÊN Choson (1392-1910)

Ở hầu hết các giai đoạn này, người dân Triều Tiên đều trải qua những giai đoạn cực kỳ khó khăn của nội chiến và ngoại xâm. Lịch sử Triều Tiên hiện đại cũng là cuộc nội chiến khốc liệt giữa miền Nam và miền Bắc. Để giáo dục người dân về tinh thần đó, gợi nhắc về thời khó khăn kham khổ, người dân quốc gia nầy đã dùng đôi đũa dẹp, mỗi miếng ăn gắp lên là một khó khăn. Để ý trong văn hóa người Hàn, họ luôn trân trọng từng miếng ăn, không có chuyện dưa thừa trong các bàn tiệc.

Một lý do khác, việc xử dụng đôi đũa dẹp làm kích thích lên các dây thần kinh ở đầu ngón tay, việc nầy cũng kích thích việc ăn ngon và tiêu hóa cũng tốt hơn.

Đôi điều được nghe qua, thấy hay và muốn chia sẻ.

Tháng Giêng đi đình Phú Mỹ – Nhà Bè (3)

Một phần quan trọng của cúng đình là phần đọc văn tế thần. Tìm hiểu thêm thì biết thêm khá nhiều điều thú vị.

Văn tế thần thường chia thành 2 phần: lòng linhlòng văn.

  • Lòng Linh là phần liệt kê tên của các vị thần được mời tới chứng giám. Lòng linh sẽ khác nhau giữa các đình, ban hội tề thường là những người sẽ cung ứng phần lòng linh nầy.
  • Lòng Văn là những lời cầu nguyện, ca ngợi công đức các vị thần, cảm tạ các vị đã ban phước cho chúng sanh. Thường phần lòng văn sẽ có một “format” nhứt định, các thầy lễ thường cũng cọp dê qua lại sao cho phù hạp với xứ của mình.

Được biết văn tế xưa phải viết bằng chữ nôm trên giấy hồng điều. Nhưng ngày nay không mấy người biết chữ nôm nên người ta viết chữ quốc ngữ, nhưng vẫn phiên âm theo kiểu chữ nôm hơn là bằng kiểu thuần Việt.

Đây là phần mình nghe và chép lại ở đình Phú Mỹ, lúc được lúc không, sẽ có chổ sai chánh tả do cổ ngữ. Kèm đó là phần dịch trại do ông bác dưới quê hỗ trợ và điều chỉnh.


BỔN VĂN CẦU LỆ ĐÌNH THẦN PHÚ MỸ- NHÀ BÈ

Duy.

Tuế thứ, Đinh Dậu niên, Canh Ngọ nhựt lương thần.

An Nam quốc, Gia Định tỉnh, Nhà Bè quận, Bình Thị Hạ tổng, Phú Mỹ Tây thôn.

Hiệp toàn bổn viên quan: niên hương Nguyễn văn Nghiêm, chánh tế Trương Văn Toạ, bồi tế Nguyễn Hiếu Nghiệm, toàn bổn viên quan viên chức bổn điền chư hiệp giả, nam phụ lão ấu đồng đẳng. 

 

Cẩn vỹ cang lạp, tư nghị, chước, kim ngân, hương đăng hoa quả, phẩm vậy chi nghi. 

Hôm nay ngày Canh Ngọ, năm Đinh Dậu, chọn giờ lành chúng tui toản thể nam phụ lão ấu, các viên chức ……. cùng các giới thuộc thôn Phú Mỹ Tây, tổng Bình Thị Hạ, Quận Nhà Bè, tỉnh Gia Định, nước An Nam đều tề tụ về đây, kính trình lễ vật gồm xôi rượu vàng bạc nhang đèn hoa quả.

 

Cảm chiêu cáo vu.

Kính dưng lời khẩn tỏ cùng

Thiên địa thần ký tôn Thần, sơn xuyên nhạc độc tôn thần, bổn cảnh thần hoàng tôn thần, bổn cảnh bổn xứ thổ địa tôn thần hiệp toàn phước thần chư vị, tế dương niên hành khiếu hành binh tôn thần, hữu ban tả ban liệt vị tôn thần, ngũ phương thổ công-thổ chủ chi thần, ngũ hành tiên nương chi thần, thần nông hậu tắc tôn thần, sơn lâm chúa tể mãnh hổ đại tướng quân, chúa ngưu mang nương chư vị, lang lại đại tướng quân chư vị, cổ nhơn hiển thánh chi thần, tiền hiền hậu hiền khai khẩn chi vị, viên quan chức sắc hương chức tiền vãn chi vị, chiến sĩ trận vong chi vị, viết minh minh linh đức chi thiên địa.

   —– y như chữ Nôm——-

 

Tư nhơn tiết giới trọng xuân, lễ đặc trần hy sinh thiết, tải ca xướng tế cáo. Nhất diêm, tỷ xí tỷ xương, vĩnh bảo lâng trung khang thái, viết phú viết thụ.

Hôm nay nhơn tiết giữa trời xuân, chúng con bày ra lễ vật, trình ca xướng hát để khẩn xin chư vị để giúp đỡ bà con làm ăn hưng thịnh, an khang mạnh dõi.

Quốc thới dân an tăng phước chỉ, phòng điều võ thuận hưởng an ninh. Nhựt nhựt thạnh cường tam nông ủy vọng. Gia gia cấp túc vạn vật toại sanh. Hựu thôn trung phú hữu, bảo hương nội hòa bình.

Nước nhà thái bình, nhân dân an lạc là cái nền thêm phước. Lại thêm mưa thuận gió hòa, miền miền được an ninh, ngày thêm thịnh vượng hùng cường. dân sống sung túc, bảo hộ khắp nơi hòa bình

 Ngưỡng lại thánh thần chi gia huệ giã, phục duy cẩn cáo.

Cuối xin tôn thần ban phước. Kính cẩn khấu đầu bái chư liệt vị!

Lý Sơn- đánh nhanh rút gọn 1 ngày

Lý Sơn Quảng Ngãi sẽ không quá xa lạ với mọi người, với mình đó là chuyến đi hành xác vì phải ói mật xanh mật vàng cả 2 bận đi ra và đi về.

Cảnh đẹp, còn hoang sơ, đầy rác, đồ ăn tươi ngon, người dân địa phương thân thiện, khách là BK nhiều- là những cảm giác đầu tiên về hòn đảo.

Cập nhật trước mấy hình ảnh, sẽ có bài khác tìm hiểu nhiều thứ thú vị về đảo sau.


Quốc lộ 50: Đọc sử bằng cách đi đường (4)

Qua khỏi chợ Cần Đước chạy thẳng chừng 4 cây số là tới Cầu Nổi. Còn nếu ngay chân cầu chạy thẳng luôn thì sẽ ra bến phà cũ, bây giờ thành đường cụt nên cũng hoang tàn lắm.

Mỹ Lợi

Mỹ Lợi ngày nay là tên một cái cầu bê tông, trước là tên một cái bắc qua sông Vàm Cỏ là ranh giới hai tỉnh Long An và Tiền Giang,vị trí phía bắc Gò Công và phía nam Cần Đước.

Bắc Mỹ Lợi xưa (Zing)

Cầu Mỹ Lợi nay

Xưa nay dân hai bên gọi là đò Bao Ngược, rồi hồi thập niên 60 người Mỹ thả trái nổi làm cầu bắc nên dân gọi là bắc Cầu Nổi, Cầu Nổi thành một địa danh vùng của Cần Đước, trên xe đò xe bus đều ghi Cầu Nổi là cái vùng hai bên cái bắc –mặc dù tên chánh thức là phà Mỹ Lợi. Nghe ba má kể hồi trước 75, ngay bến phà cũ có gắn cái chữ MỸ LỢI bằng xi măng ngay cổng vô bên bắc, sau nầy “mấy ổng” tháo xuống, dẹp luôn cái tên ấp Mỹ Lợi, đổi thành Trí Đồ. Mà cũng không ai biết và hiểu Trí Đồ có nghĩa gì với xứ nầy.

Mỹ Lợi xuất xứ ở đâu?

Hên là ông Hồ Biểu Chánh có táy máy tay chưn khi viết tiểu thuyết về địa phương của mình. Trong «Cay đắng mùi đời» có đoạn : «Ai đi đường Chợ Lớn xuống Gò Công, hễ qua đò Bao Ngược rồi lên xe chạy ra khỏi chợ Mỹ Lợi, tới khúc quanh, thì sẽ thấy bên phía tay trái, cách lộ chừng ít trăm thước, có một xóm đông, kêu là Xóm Tre, nhà ở chật, cái trở cửa lên, cái day cửa xuống, tre xanh kịt bao trùm kín mít, ngoài vuông tre thì ruộng bằng trang sấp liền từ giây»

Và một đoạn nữa :

“Năm ngoái qua chở thằng con qua lên Sài Gòn uống thuốc, đi tới Nước Xoáy qua có gặp một đứa nhỏ chừng mười ba, mười bốn tuổi đờn ca giỏi quá. Qua có hỏi nó, nó nói tên Ðược, gốc ở chợ Mỹ Lợi thuộc hạt Gò Công, chắc là nó đó chớ gì?”

 

 

Ngôi nhà kiểu Gò Công

Như vậy Mỹ Lợi là một cái chợ nằm bên mé Gò Công và từ 1923 chợ Mỹ Lợi vẫn còn. Năm nầy đã có bắc Mỹ Lợi nhưng dân gian vẫn quen gọi là đò Bao Ngược.

Gò Công là tỉnh nhỏ xíu khoảng 600 cây số vuông, là một bán đảo, bị sông và biển bao bọc. Xưa muốn về thành Gia Định thì chỉ có đi đò, đi ghe.

Bằng tài công đò Mỹ Lợi

Bằng khen cứu người của thủy thủ đò Mỹ Lợi

Vua Tự Đức dính quê ngoại Gò Công nên là người cho đắp con đường bộ chạy ngựa từ Gia Định xuống giồng Sơn Quy để liên lạc với quê ngoại mà nay là quốc lộ 50, trước là liên tỉnh lộ 15, trước nữa kêu là lộ Hàng Dương vì hai bên đường có trồng cây dương bự và mát lắm.

Pháp qua đã mở rộng, trải đá dăm con đường ngựa trạm đó nối Gò Công với Chợ Lớ, tất nhiên đều phải đụng con sông, cái đò Bao Ngược và sau nầy là bắc Mỹ Lợi-Cầu Nổi. Bắc Mỹ Lợi-Cầu Nổi là cái bắc “địa đầu” và quan trọng nhứt của tỉnh Gò Công xưa nên Pháp cho xà lan chạy máy ,trong khi bắc Chợ Gạo thì dùng tay kéo. Dân Gò Công cần cái bắc nầy nhiều hơn dân Cần Đước nên địa danh Mỹ Lợi lấy từ mé Gò Công chăng?

Năm 1889, thời Pháp thuộc, thái hậu Từ Dũ sai vua Thành Thái về lăng mộ họ Phạm ở Gò Công bái tổ tiên, vua Thành Thái theo đường ngựa trạm từ Chợ Lớn về đến bờ bắc bến đò Mỹ Lợi, qua đò sang Gò Công, tháp tùng có quan toàn quyền, chánh tham biện Gò Công và các quan viên trong tỉnh. Hương chức và người dân hai bên đường bày hương án đón tiếp.

Mỹ Lợi thẳng đến Gò Công
Tam quan tám cửa, Khánh môn nối liền
Lọng tán cờ biển hoan nghênh
Hội tề khăn áo rộng xanh đứng chờ

Năm 1942 vua Bảo Đại đích thân lái xe hơi đi theo con đường quốc lộ 50 cùng Hoàng hậu Nam Phương về Gò Công bái tổ và cũng dừng chưn –bước lên bắc Mỹ Lợi qua xứ Gò .

Tháng Giêng đi đình Phú Mỹ – Nhà Bè (2)

Lạm bàn về sắc phong THẦN HOÀNG BỔN CẢNH

Đọc lại lịch sử, khi những người lưu dân từ miền ngoài vào trong nầy khai khẩn, hầu hết chỉ mang theo mớ hành trang vật chất đơn sơ, ít ỏi, nhưng bên cạnh đó là thứ hành trang tinh thần của tính khí phiêu lưu, phóng túng, không buộc mình vô khuôn khổ phong kiến, tinh thần hiệp nghĩa đến vùng đất mới. Rồi cũng ổn định, rồi họ đã khoắc khoải nhớ quê hương đất cũ. thôn xóm hình thành, họ lấy những tên làng xóm bắt đầu với những từ tốn đẹp ” Long, Vĩnh, Bình, An, Tân, Phú…”. Và rồi họ lập đình với nguyện vọng ban đầu là nơi công nhận “tên” và “biểu trưng” của thôn làng mình.

Mình đọc qua nhiều sách, nếu không lầm thì chỉ thấy sắc phong cuối cùng là vào năm thứ 18 của trào Bảo Đại (1943). Như kỳ trước đã nói qua, đình Phú Mỹ lập thành hồi năm 1953 nên chắc chắn sẽ không có sắc phong của triều đình Huế.

Nói thêm về sắc phong, một phần là nhu cầu tâm linh, cộng thêm là ý muốn tạo lập một thiết chế văn hóa tính ngưỡng chánh thống của vương trào mới, xóa bỏ ảnh hưởng của trào đại trước nên dưới thời các vua Nguyễn, cứ mỗi 3 năm sẽ ban sắc phong thần một lần. Sắc phong thường giống nhau ở các địa phương, chỉ khác nhau tên địa phương nầy với địa phương kia mà thôi.

Sẽ có người hổi Thành Hoàng là ai? Sắc phong của triều đình cho vị thần nào cũng đồng nghĩa với việc xem vị thần đó là cơ sở pháp lý phụng mệnh nhà vua xuống làm thần quyền của làng xã. Khi vị thần nào có sắc phong của nhà vua cho một làng nào đó thì các vị thần đó mặc nhiên được gọi là Thành Hoàng của làng. Đây có thể coi là biểu trưng, là chủ tể của cõi thiêng liêng của làng và đều mang tính chất là hộ quốc tý dân (bảo vệ đất nước giúp dân đen- Sơn Nam). Nó có ý nghĩa đặc biệt với lưu dân, khi đương đầu với nhiều khó khăn do thiên tại địch họa, thú dữ hoành hành; họ cần Thần để giúp mưa thuận giá hòa, mùa màng tươi tốt, mà cái này dễ thấy nhứt qua các bức hoành phi trên nóc các đình “Phong điều vũ thuận” hoặc “Vạn dân lạc nghiệp”

Quay lại đình Phú Mỹ, dù không có sắc phong, sanh sau đẻ muộn nhưng cách bố trí đình cũng rất bài bản với các bài trí các trang thờ:

  • Chánh giữa điện: THẦN
  • Gian giữa: Liệt thánh hội đồng chi vị
  • Tả ban thần vị- viên quan chức tước hương chức hiền giả chi vị
  • Hữu ban thần vị- tiền hiền hậu hiền khai hóa chi vị
  • Điện tiền hương án

 

Hằng năm, đình Phú Mỹ hội những lễ lớn sau:

  • 07 tháng giêng: hạ nêu
  • 16 tháng giêng: kỳ yên
  • 05 tháng năm: đoan ngọ
  • 11 tháng năm: hạ điền
  • 16 tháng bảy: trung ngươn
  • 16 tháng mười: cầu bông
  • 25 tháng chạp: đưa thần
  • 30 tháng chạp: rước thần

 

Tháng Giêng đi đình Phú Mỹ – Nhà Bè (1)

Đình Phú Mỹ nằm ngay cạnh Phú Mỹ Hưng Quận 7 nên bà con chung quanh hay kêu là “Đình nhà giàu”. Ngày trước đình nằm khuất sau một táng cây lớn, sau mở đường bự ra nên đình cũng lộ  ra mặt tiền , nhìn sáng sủa hơn hẳn ngày xưa.

Theo địa lý cũ thì Đình Phú Mỹ ngày nay thuộc làng Phú Mỹ Tây, quận Nhà Bè, tỉnh Gia Định. Theo các ông gặp trong hôm cúng đình, đình được khởi công xây dựng vào hồi năm 1957 ngay sau khi thống nhứt nam bắc, ngay khu đầm lầy Nhà Bè, dây mặt ra rạch Ông Đội, đấu lưng vô con rạch nhỏ bây giờ là đường 15B. Ban đầu chỉ lợp lá, tới năm 1974 thì lợp tôn xin măng kiên cố, rồi hồi năm 2003 được một cơ sở lúa gạo địa phương ủng hộ xây lại mái ngói, làm nhà hội và sân bãi cho tới ngày nay. Nhìn từ đường Nguyễn Lương Bằng vô, đình hiện ra đẹp đẽ với cổng tam quan, cờ hội, mái ngói núp sau đám cây cổ thụ rất đẹp mắt.  Mặc dầu không bề thế, tuy nhiên ở thời buổi nầy mà giữ gìn được như vậy thì cũng thiệt đáng mừng.

Đình Phú Mỹ có kết cấu như hầu hết các đình làng Nam Kỳ với sân Cổng đình, sân đình, bình phong, nhà hội, nhà trù.

Bình phong nằm chánh giữa phía trước sân đình. Mặt bình phong thở Sơn lâm chúa tể đại tướng quân, được đắp nổi vẽ cảnh cọp vàng đứng bên gộp đá lởm chởm, có một cây cổ thụ gie cành lá.

Mặt sau  bình phong thờ thần nông. Tả hữu bình phong thờ Thổ công thủ chủ và Ngũ hành tiên nương theo tín ngưỡng thờ mẫu của ông bà ta.


Chánh điện đình cũng cơ bản cách bố trí với thờ THẦN,  hữu ban tả ban, tiền hiền hậu hiền khai hóa, viên quan chức tước hương chức hiền giả.

Nhà trù khá khang trang, bàn ghế chén đũa cũng tươm tất vô cùng.

Nghe bá tánh nói những năm trước đình cũng đơn giản và xụp xệ. Mấy năm gần đây dân chúng chung quanh làm ăn khấm khá nên cũng đóng góp công đức cho đình khang trang như năm nay. Hơn nữa, đình cũng chủ trương xử dụng phần đất trống bên cạnh cho doanh nghiệp địa phương mướn làm vựa vật tư xây dựng lấy huê lợi tu bổ.


Sân đình tương đối thoáng đãng

Ngày nay mấy người trẻ tuổi dường như xa lạ với mấy đám cúng đình, đôi lúc đứng trong một góc trong đám cúng mà dòm không thấy có đứa trẻ nào, ngó quanh quẩn chỉ có ông già bà già và con nít. Buồn lòng vô kể.

Trách ai? Thời đại tiến bộ điện tử hay giáo dục có vấn đề? Khi mà đám nhỏ không hề biết lịch sử cái mảnh đất mình đang sống, không biết người nào khai phá, lập làng lập ấp, mà người Nam Kỳ gốc khai hoang, lưu dân nữa, rất quan trọng ông bà tổ tiên.  Nền giáo dục bây giờ dạy lũ trẻ “mồ cha không khóc, đi khóc gò mối bên đường”. Cho nên có nhiều bạn còn trẻ mà quan tâm tới đề tài nầy thì quả thực rất quý.

Bản thân mình lúc nhỏ cũng nào biết gì cúng đình, cúng miễu, một chữ Hán không biết, rồi nhào vô cũng quen, nhớ lời cô Lựu trong tuồng cải lương cùng tên đã dạy cô Kim Anh con gái mình là: “con cứ đi lên đó đi , rồi mình coi bà con cô bác người ta làm sao rồi cái mình bắt chước mình làm y như vậy là đúng hà !”

Mong tất cả mọi người vô tình đi đường mà nghe tiếng trống thùng thùng từ đình làng, miễu mạo thì hãy dừng xe đi vô đình và xá một cái ,bảo đảm sẽ ấm lòng và bình yên trong năm mới, lịch sử của đất Nam Kỳ đang mỉm cười với bạn đó.

Kỳ 2: Lễ kỳ yên đình Phú Mỹ

Phong Việt

Quốc lộ 50: Đọc sử bằng cách đi đường (3)

Cần Đước

Ca dao Nam Kỳ có câu:

“Gạo Cần Đước, nước Đồng Nai
Ai về xin nhớ cho ai theo cùng”

Ngẫm mà vui,có cái xứ nào trong lịch sử sánh ngang với xứ Đồng Nai nhiều sản vật, gạo Cần Đước nổi tiếng bỏ vô nồi nấu với nước ngọt sông Đồng Nai thì số dzách. Cần Đước là một địa danh thuộc trường phái bắt đầu bằng chữ “Cần” trong Nam Kỳ lục tỉnh như Cần Thơ, Cần Giờ, Cần Giuộc…mà nếu tách chữ Cần đó ra thì không hề có ý nghĩa.

Biết chắc Cần Đước là xuất xứ từ tiếng Khmer rồi đó, có người nói Cần Đước là Anơơk tức là con rùa thì…chưa chắc đúng vì thực tế trong đời sống dân ở đây xưa giờ chưa thấy có con rùa tự nhiên nào trong vùng. Vậy Cần Đước là cái giống gì thì tới nay chưa có ai biết tỏ tường ?!?

Thời chúa Nguyễn,Cần Đước thuộc dinh Trấn Biên, chúa Nguyễn lập ở Nam Kỳ Cửu Khố – 9 trường biệt nạp tức trạm thâu thuế thì trên đất Cần Đước đã có 2 là Thiên Mụ, Cảnh Dương. Cần Giuộc, Cần Đước, Gò Công là ba vùng liền kề nhau, cùng làm “phên dậu” cho đất Gia Định Sài Gòn

Pháp qua,năm 1871 Cần Đước thuộc tỉnh Chợ Lớn. Cũng do người Pháp mà địa danh Cần Đước xuất hiện, năm 1923 Pháp dời trung tâm của đại lý hành chánh vùng từ Rạch Kiến về ngay chợ Cần Đước xưa, năm 1928 chánh thức lập quận Cần Đước tỉnh Chợ Lớn với quận lỵ đặt ngay làng Tân Ân, chợ Cần Đước.

Nói thêm về chợ Cần Đước xưa-có một cái làng ở ngay doi đất nhô ra ngã ba hai con rạch Ông Quỳnh và Bến Bà- lấy nước từ sông Bao Ngược –Vàm Cỏ, tên Cần Đước xuất phát từ cái chợ nầy, đối diện mặt chợ Cần Đước lúc đó là đình làng Tân Ân, sau đó lấy đình làm nhà việc của làng rồi xã, ngày nay là miếng đất trụ sở UBND thị trần Cần Đước.

Chợ Cần Đước xưa và nay

Trung tâm Cần Đước xưa rất dễ hình dung. Nhà việc làng -xã Tân Ân nằm đâu mặt chợ Cần Đước, cái đuôi chợ-khúc chợ cá thì nhìn thẳng qua bên đường lộ-tức Quốc Lộ 50 ngày nay- cách một khúc sông khá rộng hồi đó có cây cầu sắt gọi là cầu Chùa.

Từ Sài Gòn muốn vô dinh quận Cần Đước phải chạy qua cầu Chùa, trên cây cầu nầy đã nhìn thấy bên kia sông chợ Cần Đước rồi, chạy chừng vài trăm mét tới ngã ba nhà việc làng Phước Đông, có cái bến xe thì quẹo phải vô đường Nguyễn Khắc Tuấn (Nay là Nguyễn Trãi) chạy ngang qua khu nhà lầu Bà Sáu Chắt (Nay là ban chỉ huy quân sự huyện), cuối đường có một cây cầu sắt gọi là cầu Dinh Quận, qua cầu là thấy dinh quận, vô khu vực trung tâm chợ. Con đường độc đạo khi đó, dân các làng-xã Tân Ân, Tân Chánh, Phước Tuy muốn ra lộ cái đều phải đi đường nầy.

Sau 1975 ,để hạn chế thủy triều sông Vàm Cỏ lên xuống để ruộng lúa bên kia làng Tân Lân làm nhiều vụ người ta lấp ngang QL 50–xóa sổ Cầu Chùa, lấp luôn cầu Dinh Quận .Sau đó giải tỏa luôn chợ Cần Đước cũ, đắp một con đường từ chợ cũ thẳng ra QL 50 thành đường Trần Hưng Đạo ngày nay.

 

Cũng nên nhắc lại một cái vui vui,tháng 2 năm 1963 thời đệ nhứt VNCH TT Ngô Đình Diệm-tức là chỉ còn 8 tháng nữa là bị đảo chánh, ông Diệm vốn là người học Nho, thích phiên âm địa danh Miền Nam ra từ Hán Việt –ông đã biến chữ Cần Đước ra thành Cần Đức trong sự thảng thốt của dân Cần Đước. Cái tên Cần Đức có nghĩa tiêu cực, rất xấu mà là tên một quận, thành ra năm 1965 Cần Đước lại trở về.

Phong Việt