Đôi đũa Hàn Quốc

Đũa là dụng cụ dùng để ăn phổ biến trong văn hóa Á Đông, thiết kế của chúng rất phù hợp với thói quen ăn uống của người Á Đông. Xử dụng đũa để ăn là một nét văn hóa, ngày nay cả Đài Loan, Nhật Bản, Việt Nam và Hàn Quốc đều có văn hóa dùng đũa, nhưng do ảnh hưởng của lịch sử và văn hóa bản địa mà đũa ở các nước nầy không giống nhau. Riêng ở Hàn Quốc, đôi được thường là kim loại, bạc, dẹp và rất khác so với đũa của Việt Nam hay Tàu.

 

Trước đây lúc còn làm việc cho công ty Hàn Quốc, tôi thường được mọi người chia sẻ về đôi đũa ăn cơm của người dân ở quốc gia nầy. Có nhiều giả thuyết về lý do mà người Hàn khác so với phần còn lại của các nước có xử dụng đũa, nhưng phổ biến nhứt có thể kể tới:

  • Đó là thời kỳ các gia đình hoàng tộc dùng đũa bạc để thử độc trong đồ ăn. Kế hoạch của kẻ thù sẽ bị lụi bại nếu đũa bạc đổi màu vì có hiện tượng hóa học xảy ra giữa bạc và chất độc. Người ta tin rằng dân chúng cũng học theo vua chúa và dùng đũa kim loại từ đó.
  • Giả thuyết khác là người Hàn họ ăn rất cầu kỳ, nhiều món nho nhỏ. Những người vợ xưa thường sẽ phải hầu chồng ba bữa cơm, sau khi nấu xong dưới bếp, họ đều tự mình để từng đĩa lớn bé lên một chiếc bàn nhỏ bưng lên cho chồng, vì thế đũa dẹp sẽ tránh được việc đũa lăn đi.
  • Lại có một giả thuyết khác là món khác như đồ nướng, hải sản rất phổ biến trong văn hóa ẩm thực Hàn Quốc, đặc biệt là các loại canh hay thức ăn tẩm gia vị tương ớt, có màu đỏ hay mùi mắm. Do đó dùng đũa kim loại sẽ không bị bắt lửa khi nướng, lại dễ dàng lau rửa.

Tuy nhiên trong chuyến đi Hàn Quốc vừa rồi, anh bạn người Hàn lại chia sẻ với tôi 2 giả thuyết khác khá thú vị về thiết kế đặc biệt nầy.

Sơ về Triều Tiên cận đại, trước thời Nhựt đến Triều tiên (1910) có thể tìm hiểu ở đây, đại khái cho dễ hiểu:

Trào TÂN LA Silla (668-935)
Trào CAO LY Koryo (918-1392)
Trào TRIỀU TIÊN Choson (1392-1910)

Ở hầu hết các giai đoạn này, người dân Triều Tiên đều trải qua những giai đoạn cực kỳ khó khăn của nội chiến và ngoại xâm. Lịch sử Triều Tiên hiện đại cũng là cuộc nội chiến khốc liệt giữa miền Nam và miền Bắc. Để giáo dục người dân về tinh thần đó, gợi nhắc về thời khó khăn kham khổ, người dân quốc gia nầy đã dùng đôi đũa dẹp, mỗi miếng ăn gắp lên là một khó khăn. Để ý trong văn hóa người Hàn, họ luôn trân trọng từng miếng ăn, không có chuyện dưa thừa trong các bàn tiệc.

Một lý do khác, việc xử dụng đôi đũa dẹp làm kích thích lên các dây thần kinh ở đầu ngón tay, việc nầy cũng kích thích việc ăn ngon và tiêu hóa cũng tốt hơn.

Đôi điều được nghe qua, thấy hay và muốn chia sẻ.

Tháng Giêng đi đình Phú Mỹ – Nhà Bè (3)

Một phần quan trọng của cúng đình là phần đọc văn tế thần. Tìm hiểu thêm thì biết thêm khá nhiều điều thú vị.

Văn tế thần thường chia thành 2 phần: lòng linhlòng văn.

  • Lòng Linh là phần liệt kê tên của các vị thần được mời tới chứng giám. Lòng linh sẽ khác nhau giữa các đình, ban hội tề thường là những người sẽ cung ứng phần lòng linh nầy.
  • Lòng Văn là những lời cầu nguyện, ca ngợi công đức các vị thần, cảm tạ các vị đã ban phước cho chúng sanh. Thường phần lòng văn sẽ có một “format” nhứt định, các thầy lễ thường cũng cọp dê qua lại sao cho phù hạp với xứ của mình.

Được biết văn tế xưa phải viết bằng chữ nôm trên giấy hồng điều. Nhưng ngày nay không mấy người biết chữ nôm nên người ta viết chữ quốc ngữ, nhưng vẫn phiên âm theo kiểu chữ nôm hơn là bằng kiểu thuần Việt.

Đây là phần mình nghe và chép lại ở đình Phú Mỹ, lúc được lúc không, sẽ có chổ sai chánh tả do cổ ngữ. Kèm đó là phần dịch trại do ông bác dưới quê hỗ trợ và điều chỉnh.


BỔN VĂN CẦU LỆ ĐÌNH THẦN PHÚ MỸ- NHÀ BÈ

Duy.

Tuế thứ, Đinh Dậu niên, Canh Ngọ nhựt lương thần.

An Nam quốc, Gia Định tỉnh, Nhà Bè quận, Bình Thị Hạ tổng, Phú Mỹ Tây thôn.

Hiệp toàn bổn viên quan: niên hương Nguyễn văn Nghiêm, chánh tế Trương Văn Toạ, bồi tế Nguyễn Hiếu Nghiệm, toàn bổn viên quan viên chức bổn điền chư hiệp giả, nam phụ lão ấu đồng đẳng. 

 

Cẩn vỹ cang lạp, tư nghị, chước, kim ngân, hương đăng hoa quả, phẩm vậy chi nghi. 

Hôm nay ngày Canh Ngọ, năm Đinh Dậu, chọn giờ lành chúng tui toản thể nam phụ lão ấu, các viên chức ……. cùng các giới thuộc thôn Phú Mỹ Tây, tổng Bình Thị Hạ, Quận Nhà Bè, tỉnh Gia Định, nước An Nam đều tề tụ về đây, kính trình lễ vật gồm xôi rượu vàng bạc nhang đèn hoa quả.

 

Cảm chiêu cáo vu.

Kính dưng lời khẩn tỏ cùng

Thiên địa thần ký tôn Thần, sơn xuyên nhạc độc tôn thần, bổn cảnh thần hoàng tôn thần, bổn cảnh bổn xứ thổ địa tôn thần hiệp toàn phước thần chư vị, tế dương niên hành khiếu hành binh tôn thần, hữu ban tả ban liệt vị tôn thần, ngũ phương thổ công-thổ chủ chi thần, ngũ hành tiên nương chi thần, thần nông hậu tắc tôn thần, sơn lâm chúa tể mãnh hổ đại tướng quân, chúa ngưu mang nương chư vị, lang lại đại tướng quân chư vị, cổ nhơn hiển thánh chi thần, tiền hiền hậu hiền khai khẩn chi vị, viên quan chức sắc hương chức tiền vãn chi vị, chiến sĩ trận vong chi vị, viết minh minh linh đức chi thiên địa.

   —– y như chữ Nôm——-

 

Tư nhơn tiết giới trọng xuân, lễ đặc trần hy sinh thiết, tải ca xướng tế cáo. Nhất diêm, tỷ xí tỷ xương, vĩnh bảo lâng trung khang thái, viết phú viết thụ.

Hôm nay nhơn tiết giữa trời xuân, chúng con bày ra lễ vật, trình ca xướng hát để khẩn xin chư vị để giúp đỡ bà con làm ăn hưng thịnh, an khang mạnh dõi.

Quốc thới dân an tăng phước chỉ, phòng điều võ thuận hưởng an ninh. Nhựt nhựt thạnh cường tam nông ủy vọng. Gia gia cấp túc vạn vật toại sanh. Hựu thôn trung phú hữu, bảo hương nội hòa bình.

Nước nhà thái bình, nhân dân an lạc là cái nền thêm phước. Lại thêm mưa thuận gió hòa, miền miền được an ninh, ngày thêm thịnh vượng hùng cường. dân sống sung túc, bảo hộ khắp nơi hòa bình

 Ngưỡng lại thánh thần chi gia huệ giã, phục duy cẩn cáo.

Cuối xin tôn thần ban phước. Kính cẩn khấu đầu bái chư liệt vị!

Lý Sơn- đánh nhanh rút gọn 1 ngày

Lý Sơn Quảng Ngãi sẽ không quá xa lạ với mọi người, với mình đó là chuyến đi hành xác vì phải ói mật xanh mật vàng cả 2 bận đi ra và đi về.

Cảnh đẹp, còn hoang sơ, đầy rác, đồ ăn tươi ngon, người dân địa phương thân thiện, khách là BK nhiều- là những cảm giác đầu tiên về hòn đảo.

Cập nhật trước mấy hình ảnh, sẽ có bài khác tìm hiểu nhiều thứ thú vị về đảo sau.


Quốc lộ 50: Đọc sử bằng cách đi đường (4)

Qua khỏi chợ Cần Đước chạy thẳng chừng 4 cây số là tới Cầu Nổi. Còn nếu ngay chân cầu chạy thẳng luôn thì sẽ ra bến phà cũ, bây giờ thành đường cụt nên cũng hoang tàn lắm.

Mỹ Lợi

Mỹ Lợi ngày nay là tên một cái cầu bê tông, trước là tên một cái bắc qua sông Vàm Cỏ là ranh giới hai tỉnh Long An và Tiền Giang,vị trí phía bắc Gò Công và phía nam Cần Đước.

Bắc Mỹ Lợi xưa (Zing)

Cầu Mỹ Lợi nay

Xưa nay dân hai bên gọi là đò Bao Ngược, rồi hồi thập niên 60 người Mỹ thả trái nổi làm cầu bắc nên dân gọi là bắc Cầu Nổi, Cầu Nổi thành một địa danh vùng của Cần Đước, trên xe đò xe bus đều ghi Cầu Nổi là cái vùng hai bên cái bắc –mặc dù tên chánh thức là phà Mỹ Lợi. Nghe ba má kể hồi trước 75, ngay bến phà cũ có gắn cái chữ MỸ LỢI bằng xi măng ngay cổng vô bên bắc, sau nầy “mấy ổng” tháo xuống, dẹp luôn cái tên ấp Mỹ Lợi, đổi thành Trí Đồ. Mà cũng không ai biết và hiểu Trí Đồ có nghĩa gì với xứ nầy.

Mỹ Lợi xuất xứ ở đâu?

Hên là ông Hồ Biểu Chánh có táy máy tay chưn khi viết tiểu thuyết về địa phương của mình. Trong «Cay đắng mùi đời» có đoạn : «Ai đi đường Chợ Lớn xuống Gò Công, hễ qua đò Bao Ngược rồi lên xe chạy ra khỏi chợ Mỹ Lợi, tới khúc quanh, thì sẽ thấy bên phía tay trái, cách lộ chừng ít trăm thước, có một xóm đông, kêu là Xóm Tre, nhà ở chật, cái trở cửa lên, cái day cửa xuống, tre xanh kịt bao trùm kín mít, ngoài vuông tre thì ruộng bằng trang sấp liền từ giây»

Và một đoạn nữa :

“Năm ngoái qua chở thằng con qua lên Sài Gòn uống thuốc, đi tới Nước Xoáy qua có gặp một đứa nhỏ chừng mười ba, mười bốn tuổi đờn ca giỏi quá. Qua có hỏi nó, nó nói tên Ðược, gốc ở chợ Mỹ Lợi thuộc hạt Gò Công, chắc là nó đó chớ gì?”

 

 

Ngôi nhà kiểu Gò Công

Như vậy Mỹ Lợi là một cái chợ nằm bên mé Gò Công và từ 1923 chợ Mỹ Lợi vẫn còn. Năm nầy đã có bắc Mỹ Lợi nhưng dân gian vẫn quen gọi là đò Bao Ngược.

Gò Công là tỉnh nhỏ xíu khoảng 600 cây số vuông, là một bán đảo, bị sông và biển bao bọc. Xưa muốn về thành Gia Định thì chỉ có đi đò, đi ghe.

Bằng tài công đò Mỹ Lợi

Bằng khen cứu người của thủy thủ đò Mỹ Lợi

Vua Tự Đức dính quê ngoại Gò Công nên là người cho đắp con đường bộ chạy ngựa từ Gia Định xuống giồng Sơn Quy để liên lạc với quê ngoại mà nay là quốc lộ 50, trước là liên tỉnh lộ 15, trước nữa kêu là lộ Hàng Dương vì hai bên đường có trồng cây dương bự và mát lắm.

Pháp qua đã mở rộng, trải đá dăm con đường ngựa trạm đó nối Gò Công với Chợ Lớ, tất nhiên đều phải đụng con sông, cái đò Bao Ngược và sau nầy là bắc Mỹ Lợi-Cầu Nổi. Bắc Mỹ Lợi-Cầu Nổi là cái bắc “địa đầu” và quan trọng nhứt của tỉnh Gò Công xưa nên Pháp cho xà lan chạy máy ,trong khi bắc Chợ Gạo thì dùng tay kéo. Dân Gò Công cần cái bắc nầy nhiều hơn dân Cần Đước nên địa danh Mỹ Lợi lấy từ mé Gò Công chăng?

Năm 1889, thời Pháp thuộc, thái hậu Từ Dũ sai vua Thành Thái về lăng mộ họ Phạm ở Gò Công bái tổ tiên, vua Thành Thái theo đường ngựa trạm từ Chợ Lớn về đến bờ bắc bến đò Mỹ Lợi, qua đò sang Gò Công, tháp tùng có quan toàn quyền, chánh tham biện Gò Công và các quan viên trong tỉnh. Hương chức và người dân hai bên đường bày hương án đón tiếp.

Mỹ Lợi thẳng đến Gò Công
Tam quan tám cửa, Khánh môn nối liền
Lọng tán cờ biển hoan nghênh
Hội tề khăn áo rộng xanh đứng chờ

Năm 1942 vua Bảo Đại đích thân lái xe hơi đi theo con đường quốc lộ 50 cùng Hoàng hậu Nam Phương về Gò Công bái tổ và cũng dừng chưn –bước lên bắc Mỹ Lợi qua xứ Gò .

Tháng Giêng đi đình Phú Mỹ – Nhà Bè (2)

Lạm bàn về sắc phong THẦN HOÀNG BỔN CẢNH

Đọc lại lịch sử, khi những người lưu dân từ miền ngoài vào trong nầy khai khẩn, hầu hết chỉ mang theo mớ hành trang vật chất đơn sơ, ít ỏi, nhưng bên cạnh đó là thứ hành trang tinh thần của tính khí phiêu lưu, phóng túng, không buộc mình vô khuôn khổ phong kiến, tinh thần hiệp nghĩa đến vùng đất mới. Rồi cũng ổn định, rồi họ đã khoắc khoải nhớ quê hương đất cũ. thôn xóm hình thành, họ lấy những tên làng xóm bắt đầu với những từ tốn đẹp ” Long, Vĩnh, Bình, An, Tân, Phú…”. Và rồi họ lập đình với nguyện vọng ban đầu là nơi công nhận “tên” và “biểu trưng” của thôn làng mình.

Mình đọc qua nhiều sách, nếu không lầm thì chỉ thấy sắc phong cuối cùng là vào năm thứ 18 của trào Bảo Đại (1943). Như kỳ trước đã nói qua, đình Phú Mỹ lập thành hồi năm 1953 nên chắc chắn sẽ không có sắc phong của triều đình Huế.

Nói thêm về sắc phong, một phần là nhu cầu tâm linh, cộng thêm là ý muốn tạo lập một thiết chế văn hóa tính ngưỡng chánh thống của vương trào mới, xóa bỏ ảnh hưởng của trào đại trước nên dưới thời các vua Nguyễn, cứ mỗi 3 năm sẽ ban sắc phong thần một lần. Sắc phong thường giống nhau ở các địa phương, chỉ khác nhau tên địa phương nầy với địa phương kia mà thôi.

Sẽ có người hổi Thành Hoàng là ai? Sắc phong của triều đình cho vị thần nào cũng đồng nghĩa với việc xem vị thần đó là cơ sở pháp lý phụng mệnh nhà vua xuống làm thần quyền của làng xã. Khi vị thần nào có sắc phong của nhà vua cho một làng nào đó thì các vị thần đó mặc nhiên được gọi là Thành Hoàng của làng. Đây có thể coi là biểu trưng, là chủ tể của cõi thiêng liêng của làng và đều mang tính chất là hộ quốc tý dân (bảo vệ đất nước giúp dân đen- Sơn Nam). Nó có ý nghĩa đặc biệt với lưu dân, khi đương đầu với nhiều khó khăn do thiên tại địch họa, thú dữ hoành hành; họ cần Thần để giúp mưa thuận giá hòa, mùa màng tươi tốt, mà cái này dễ thấy nhứt qua các bức hoành phi trên nóc các đình “Phong điều vũ thuận” hoặc “Vạn dân lạc nghiệp”

Quay lại đình Phú Mỹ, dù không có sắc phong, sanh sau đẻ muộn nhưng cách bố trí đình cũng rất bài bản với các bài trí các trang thờ:

  • Chánh giữa điện: THẦN
  • Gian giữa: Liệt thánh hội đồng chi vị
  • Tả ban thần vị- viên quan chức tước hương chức hiền giả chi vị
  • Hữu ban thần vị- tiền hiền hậu hiền khai hóa chi vị
  • Điện tiền hương án

 

Hằng năm, đình Phú Mỹ hội những lễ lớn sau:

  • 07 tháng giêng: hạ nêu
  • 16 tháng giêng: kỳ yên
  • 05 tháng năm: đoan ngọ
  • 11 tháng năm: hạ điền
  • 16 tháng bảy: trung ngươn
  • 16 tháng mười: cầu bông
  • 25 tháng chạp: đưa thần
  • 30 tháng chạp: rước thần

 

Tháng Giêng đi đình Phú Mỹ – Nhà Bè (1)

Đình Phú Mỹ nằm ngay cạnh Phú Mỹ Hưng Quận 7 nên bà con chung quanh hay kêu là “Đình nhà giàu”. Ngày trước đình nằm khuất sau một táng cây lớn, sau mở đường bự ra nên đình cũng lộ  ra mặt tiền , nhìn sáng sủa hơn hẳn ngày xưa.

Theo địa lý cũ thì Đình Phú Mỹ ngày nay thuộc làng Phú Mỹ Tây, quận Nhà Bè, tỉnh Gia Định. Theo các ông gặp trong hôm cúng đình, đình được khởi công xây dựng vào hồi năm 1957 ngay sau khi thống nhứt nam bắc, ngay khu đầm lầy Nhà Bè, dây mặt ra rạch Ông Đội, đấu lưng vô con rạch nhỏ bây giờ là đường 15B. Ban đầu chỉ lợp lá, tới năm 1974 thì lợp tôn xin măng kiên cố, rồi hồi năm 2003 được một cơ sở lúa gạo địa phương ủng hộ xây lại mái ngói, làm nhà hội và sân bãi cho tới ngày nay. Nhìn từ đường Nguyễn Lương Bằng vô, đình hiện ra đẹp đẽ với cổng tam quan, cờ hội, mái ngói núp sau đám cây cổ thụ rất đẹp mắt.  Mặc dầu không bề thế, tuy nhiên ở thời buổi nầy mà giữ gìn được như vậy thì cũng thiệt đáng mừng.

Đình Phú Mỹ có kết cấu như hầu hết các đình làng Nam Kỳ với sân Cổng đình, sân đình, bình phong, nhà hội, nhà trù.

Bình phong nằm chánh giữa phía trước sân đình. Mặt bình phong thở Sơn lâm chúa tể đại tướng quân, được đắp nổi vẽ cảnh cọp vàng đứng bên gộp đá lởm chởm, có một cây cổ thụ gie cành lá.

Mặt sau  bình phong thờ thần nông. Tả hữu bình phong thờ Thổ công thủ chủ và Ngũ hành tiên nương theo tín ngưỡng thờ mẫu của ông bà ta.


Chánh điện đình cũng cơ bản cách bố trí với thờ THẦN,  hữu ban tả ban, tiền hiền hậu hiền khai hóa, viên quan chức tước hương chức hiền giả.

Nhà trù khá khang trang, bàn ghế chén đũa cũng tươm tất vô cùng.

Nghe bá tánh nói những năm trước đình cũng đơn giản và xụp xệ. Mấy năm gần đây dân chúng chung quanh làm ăn khấm khá nên cũng đóng góp công đức cho đình khang trang như năm nay. Hơn nữa, đình cũng chủ trương xử dụng phần đất trống bên cạnh cho doanh nghiệp địa phương mướn làm vựa vật tư xây dựng lấy huê lợi tu bổ.


Sân đình tương đối thoáng đãng

Ngày nay mấy người trẻ tuổi dường như xa lạ với mấy đám cúng đình, đôi lúc đứng trong một góc trong đám cúng mà dòm không thấy có đứa trẻ nào, ngó quanh quẩn chỉ có ông già bà già và con nít. Buồn lòng vô kể.

Trách ai? Thời đại tiến bộ điện tử hay giáo dục có vấn đề? Khi mà đám nhỏ không hề biết lịch sử cái mảnh đất mình đang sống, không biết người nào khai phá, lập làng lập ấp, mà người Nam Kỳ gốc khai hoang, lưu dân nữa, rất quan trọng ông bà tổ tiên.  Nền giáo dục bây giờ dạy lũ trẻ “mồ cha không khóc, đi khóc gò mối bên đường”. Cho nên có nhiều bạn còn trẻ mà quan tâm tới đề tài nầy thì quả thực rất quý.

Bản thân mình lúc nhỏ cũng nào biết gì cúng đình, cúng miễu, một chữ Hán không biết, rồi nhào vô cũng quen, nhớ lời cô Lựu trong tuồng cải lương cùng tên đã dạy cô Kim Anh con gái mình là: “con cứ đi lên đó đi , rồi mình coi bà con cô bác người ta làm sao rồi cái mình bắt chước mình làm y như vậy là đúng hà !”

Mong tất cả mọi người vô tình đi đường mà nghe tiếng trống thùng thùng từ đình làng, miễu mạo thì hãy dừng xe đi vô đình và xá một cái ,bảo đảm sẽ ấm lòng và bình yên trong năm mới, lịch sử của đất Nam Kỳ đang mỉm cười với bạn đó.

Kỳ 2: Lễ kỳ yên đình Phú Mỹ

Phong Việt

Quốc lộ 50: Đọc sử bằng cách đi đường (3)

Cần Đước

Ca dao Nam Kỳ có câu:

“Gạo Cần Đước, nước Đồng Nai
Ai về xin nhớ cho ai theo cùng”

Ngẫm mà vui,có cái xứ nào trong lịch sử sánh ngang với xứ Đồng Nai nhiều sản vật, gạo Cần Đước nổi tiếng bỏ vô nồi nấu với nước ngọt sông Đồng Nai thì số dzách. Cần Đước là một địa danh thuộc trường phái bắt đầu bằng chữ “Cần” trong Nam Kỳ lục tỉnh như Cần Thơ, Cần Giờ, Cần Giuộc…mà nếu tách chữ Cần đó ra thì không hề có ý nghĩa.

Biết chắc Cần Đước là xuất xứ từ tiếng Khmer rồi đó, có người nói Cần Đước là Anơơk tức là con rùa thì…chưa chắc đúng vì thực tế trong đời sống dân ở đây xưa giờ chưa thấy có con rùa tự nhiên nào trong vùng. Vậy Cần Đước là cái giống gì thì tới nay chưa có ai biết tỏ tường ?!?

Thời chúa Nguyễn,Cần Đước thuộc dinh Trấn Biên, chúa Nguyễn lập ở Nam Kỳ Cửu Khố – 9 trường biệt nạp tức trạm thâu thuế thì trên đất Cần Đước đã có 2 là Thiên Mụ, Cảnh Dương. Cần Giuộc, Cần Đước, Gò Công là ba vùng liền kề nhau, cùng làm “phên dậu” cho đất Gia Định Sài Gòn

Pháp qua,năm 1871 Cần Đước thuộc tỉnh Chợ Lớn. Cũng do người Pháp mà địa danh Cần Đước xuất hiện, năm 1923 Pháp dời trung tâm của đại lý hành chánh vùng từ Rạch Kiến về ngay chợ Cần Đước xưa, năm 1928 chánh thức lập quận Cần Đước tỉnh Chợ Lớn với quận lỵ đặt ngay làng Tân Ân, chợ Cần Đước.

Nói thêm về chợ Cần Đước xưa-có một cái làng ở ngay doi đất nhô ra ngã ba hai con rạch Ông Quỳnh và Bến Bà- lấy nước từ sông Bao Ngược –Vàm Cỏ, tên Cần Đước xuất phát từ cái chợ nầy, đối diện mặt chợ Cần Đước lúc đó là đình làng Tân Ân, sau đó lấy đình làm nhà việc của làng rồi xã, ngày nay là miếng đất trụ sở UBND thị trần Cần Đước.

Chợ Cần Đước xưa và nay

Trung tâm Cần Đước xưa rất dễ hình dung. Nhà việc làng -xã Tân Ân nằm đâu mặt chợ Cần Đước, cái đuôi chợ-khúc chợ cá thì nhìn thẳng qua bên đường lộ-tức Quốc Lộ 50 ngày nay- cách một khúc sông khá rộng hồi đó có cây cầu sắt gọi là cầu Chùa.

Từ Sài Gòn muốn vô dinh quận Cần Đước phải chạy qua cầu Chùa, trên cây cầu nầy đã nhìn thấy bên kia sông chợ Cần Đước rồi, chạy chừng vài trăm mét tới ngã ba nhà việc làng Phước Đông, có cái bến xe thì quẹo phải vô đường Nguyễn Khắc Tuấn (Nay là Nguyễn Trãi) chạy ngang qua khu nhà lầu Bà Sáu Chắt (Nay là ban chỉ huy quân sự huyện), cuối đường có một cây cầu sắt gọi là cầu Dinh Quận, qua cầu là thấy dinh quận, vô khu vực trung tâm chợ. Con đường độc đạo khi đó, dân các làng-xã Tân Ân, Tân Chánh, Phước Tuy muốn ra lộ cái đều phải đi đường nầy.

Sau 1975 ,để hạn chế thủy triều sông Vàm Cỏ lên xuống để ruộng lúa bên kia làng Tân Lân làm nhiều vụ người ta lấp ngang QL 50–xóa sổ Cầu Chùa, lấp luôn cầu Dinh Quận .Sau đó giải tỏa luôn chợ Cần Đước cũ, đắp một con đường từ chợ cũ thẳng ra QL 50 thành đường Trần Hưng Đạo ngày nay.

 

Cũng nên nhắc lại một cái vui vui,tháng 2 năm 1963 thời đệ nhứt VNCH TT Ngô Đình Diệm-tức là chỉ còn 8 tháng nữa là bị đảo chánh, ông Diệm vốn là người học Nho, thích phiên âm địa danh Miền Nam ra từ Hán Việt –ông đã biến chữ Cần Đước ra thành Cần Đức trong sự thảng thốt của dân Cần Đước. Cái tên Cần Đức có nghĩa tiêu cực, rất xấu mà là tên một quận, thành ra năm 1965 Cần Đước lại trở về.

Phong Việt

 

Quốc lộ 50: Đọc sử bằng cách đi đường (2)

Lần trước đã về tới Tân Kim, xuống xíu nữa là tới miệt Cần Giuộc.

CẦN GIUỘC

Cầu Cần Giuộc sẽ đưa chúng ta qua trung tâm, đây đất làng Trường Bình xưa. Chợ Cần Guộc ngày nay chính là chợ Trường Bình.

Đất Cần Giuộc xưa là nơi ông Nguyễn Ngọc Tương làm chủ quận nên có nhiều người theo đạo Cao Đài. Hồi sau ông Tương ly khai tòa thánh Tây Ninh lập ra Cao Đài ban chỉnh đạo nên một số thánh thất đã theo ông, đi ngang xứ nầy và xứ Gò Công bạn sẽ thấy thánh thất có ghi câu”Được sự ủng hộ của giáo tông Nguyễn Ngọc Tương” là biết Cao Đài ban chỉnh đạo. Hồi đó mình không để ý thì tưởng thánh thất nào cũng như nhau, nhưng thiệt ra là của nhiều bang phái khác nhau. Điều đó cho thấy thời đó đời sống tôn giáo ở Nam Kỳ rất là phong phú.

Thánh thất Trường Bình

Góc nhỏ Trường Bình

Ai mà học phổ thông thì chắc biết bào Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giộc của Đồ Chiểu. Bài văn tế được ông viết để ngợi ca, thương tiếc và kính phục những nghĩa quân đã anh dũng đứng lên chống Pháp ở Cần Giuộc vào năm 1861.

Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;
Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng lụy nhỏ

Cầu MỒNG GÀ

Chạy xuống đụng cầu Mồng Gà. Cầu Mồng Gà có tên trong văn Hồ Biểu Chánh

(Trích lời thề trước miễu) ” Trời gần sáng. Trong mấy xóm ở dọc theo khúc lộ từ cầu Mồng Gà lên chợ Cần Giuộc, gà gáy vang rân, tiếp nhau kêu nông phu thức dậy mà đi ra ruộng.

Bên hướng Đông trời giăng mấy cụm mây đen để áng mặt nhựt chưa cho lố lên; tuy vậy mà bên hướng tây vừng trăng khuyết treo lửng đửng trên không đã nhượng bước, nên phai lợt lu mờ, không còn tỏ rạng như hồi canh khuya nữa.”

Cầu Mồng Gà

Trong giới đờn ca tài tử có Bà Tư Cầu Mồng Gà, ái nữ nhạc sư Năm Tịnh. Cầu Mồng Gà chạy chút xíu đi qua Vĩnh Nguyên, vùng này có khu gò mả khá lớn, một thời có tiếng đi khuya nhiều người bị ma nhập, cho ăn bánh ít đất,  có Vĩnh Nguyên tự là nơi góp phần tạo ra đạo Cao Đài

CHỢ TRẠM

Bạn sẽ gặp một cái ngã tư chắn ngang gọi là ngã tư Chợ Trạm, trạm là nơi dừng ngựa, xưa triều Nguyễn dùng ngựa trạm chuyển công văn thư từ nầy nọ, ngựa chạy mấy chục cây số thì nghỉ, người ở trạm sau đó cứ chạy tiếp nên có cây cầu tên Chợ Trạm. Hồi lúc mình còn nhỏ mỗi lần đi ngang đây, để ý bên mé tay mặt có một cái nhà cổ rất là bự, mình đoán là nhà công chức hồi xưa. Cách đây chừng mấy năm thì thấy cái này bị đập nát, thay vô đó là cái nhà hiện đại chà bá lửa. Đúng là thời cuộc.

Chợ Trạm cũng là nơi Pháp xử tử ông Lãnh Binh Nguyễn Văn Tiến, nay có lăng mộ ông ở đây. Qua ngã tư 100 m,nhìn tay phải có con đường dẫn vào mộ ông Tiến. Mình chỉ nghe vậy thôi chứ chưa tới thăm viếng bao giờ, hy vọng sẽ có thời gian sắp xếp đi được.

Ngã Tư Chợ Trạm

Lãnh binh Nguyễn Văn Tiến sinh năm 1848. Năm 1883, trong một trận đánh ở Bình Đăng, bị bắt và bị xử chém vào sáng mồng 3 tháng 10 năm Quý Mùi (21/11/1883) tại Chợ Trạm năm 35 tuổi.

CẦN ĐƯỚC

Đất Cần Đước, Cần Giuộc xưa thuộc tỉnh Chợ Lớn, xưa hơn là thuộc Gia Định thành, vùng này sát Sài Gòn nên dân chúng qua lại rất nhiều, nó gắn với Gò Công thành một chuổi cho nên văn hóa dân gian, sinh hoạt cộng đồng có dính dáng bà con với nhau. Ví như vùng Mỹ Lệ tức Chợ Trạm, Chợ Đào có ông Ba Đợi, nhạc sư Nguyễn Quang Đại là hậu tổ của đờn ca tài tử Nam Kỳ, ông từ Huế vào Nam ở vùng Vạn Phước đã truyền dạy nghề đờn ca cho các đệ tử ở quanh vùng. Chung quanh Cần Đước, Cần Giuộc toàn đại đệ tử ông ba . Có câu “Nhứt Bạc Liêu nhì Cần Đước”, Bạc Liêu ca số 1, Cần Đước thì đờn số 1. Vang danh một thời!

Từ Sài Gòn chạy về ngã tư Chợ Trạm, nếu bạn quẹo trái sẽ về vùng Thủ Bộ, Chợ Núi , quẹo phải thì về Chợ Đào, Rạch Kiến. Nên nhớ gạo nàng thơm Chợ Đào là nổi tiếng nhứt Nam Kỳ lục tỉnh á nhen.

Từ Chợ Trạm chạy về sẽ gặp khu Nhà Dài, khu này xưa là vùng việt cộng, mấy ông bà xưa hay kể thời Việt Minh 45 , thậm chí thời VNCH thì Việt Cộng hay tràn ra lộ ban đêm đấp mô và phá đường, chạy qua tới Tân Lân, Tân Lân là làng khá trù phú hồi xưa có chùa Phước Lâm rất cổ, một làng có tới 5 ngôi chùa, địa danh Xóm Chùa là của Tân Lân

Về tới nữa là trung tâm quận lị Cần Đước. Hồi xưa có cây cầu sắt rất lớn bắt qua con rạch khúc chợ Cần Đươc ngày nay gọi là cầu Chùa, sau 1975 bị lấp mất, từ cầu nhìn qua bên phải sông là chợ và dinh quận. Vị trí chợ Cần Đước (cũ) rất kỳ lạ, nằm ở giữa cái doi đất ba bên là sông. Muốn vào thì từ Liên tỉnh lộ 50 phải quẹo vô đường độc đạo Nguyễn Khắc Tuấn (nay là Nguyễn Trãi, đã xóa tên ông Tuấn ) và qua một cây cầu sắt nữa. Năm 1923 Pháp dời quận lị Cần Đước về vị trí này cũng vì lý do an ninh.

Rạch qua chợ Cần Đước

Ông Nguyễn Khắc Tuấn (1767-1823) là thống chế triều Minh Mạng, dân Tân Chánh, nổi tiếng tiểu trừ thổ phỉ mạn Bắc Kỳ. Năm 1791 đầu quân theo Chúa Nguyễn Ánh và được phong là Cai Đội. Sau khi Gia Long thống nhất Nam Bắc, Nguyễn Khắc Tuấn được cử trông coi việc quân ở Bắc Thành, đến thời Minh Mệnh được phong chức Khâm sai, Chưởng cơ thống quản Trung quân trấn định thập cơ, tước Hầu. Năm 1822 trông coi đắp thành Hưng Hóa. Trong khoảng thời gian này, ông đã được triều đình cử làm tổng chỉ huy quân đội cùng với Trấn thủ Tuyên Quang dẹp giặc ở Lư Khê và đã được triều đình khen thưởng.

Năm Minh Mệnh thứ 4 (1823) Nguyễn Khắc Tuấn mất, được truy tặng Thống chế, phong là Nghiêm oai Tướng quân, Thượng hộ quân Thống chế, thụy là Tráng Nghị. Lăng mộ ông hiện nay kế bên đình Tân Chánh

Đất Tân Ân, Phước Tuy xưa có dòng họ Hồ, họ này có nhiều người có tiếng như Hồ Văn Ngà , sau này có ông việt cộng Hồ Văn Huê. Haha

Tạm hết phần 2

Phong Việt.

Đồi thông hai mộ

Hồ Than Thở- Đà Lạt- 1956

Từ Miền Tây thẳng cánh cò bay, chàng trai tên Vũ Minh Tâm lên Đà Lạt học tập. Chàng trai  nầy là con trai độc nhứt của một trong những điền chủ giàu có bậc nhứt Nam Kỳ với cả ngàn mẫu ruộng khắp các tỉnh miền Tây, có cả biệt thự ở Sài Gòn, ở Đà Lạt… Nhưng do là con trai một nên áp lực lập gia thất khiến chàng trai mệt mỏi, vì chưa muốn ràng buộc hôn nhân khi còn quá trẻ, lại không có nhiều cảm tình với người được ba má hỏi cho, Vũ Minh Tâm đã lên Đà Lạt học ở trường Võ bị để tránh né cuộc hôn nhơn xếp đặt.

Lê Thị Thảo là sinh viên Văn khoa ở Đà Lạt. Trong một lần đi dạo bên bờ hồ Sương Mai (nay là hồ Than Thở), duyên trời đã khiến Thảo gặp Tâm. Xúc động trước nhan sắc mong manh và tính tình dịu dàng của nữ sinh viên Văn khoa, chàng trai đã đem lòng nhớ nhung bóng hình đó. Kể từ ngày ấy, cả hai thường hẹn nhau cùng đi dạo quanh hồ Sương Mai, và cũng chính hồ Sương Mai này là nơi chứng kiến lời thề hẹn trăm năm của đôi trai tài gái sắc.

Quãng thời gian là sinh viên tuổi mười tám, đôi mươi, cả hai là đôi tình nhơn đẹp trong mắt các sinh viên cùng khóa. Nhưng rồi thời sinh viên cũng hết. Lê Thị Thảo tốt nghiệp, trở thành cô giáo dạy văn ở thành phố Đà Lạt, còn Vũ Minh Tâm cũng về quê, chăm sóc ba mẹ già, làm tròn nhiệm vụ của đứa con độc nhứt.

Ngày chia tay, Vũ Minh Tâm có hứa với người yêu, sẽ xin ba mẹ sắm trầu cau lên hỏi cưới Thảo. Nhưng lời hứa đó không thành. Ba má Vũ Minh Tâm chê Thảo chỉ là con gái một gia đình công chức nghèo, không môn đăng hộ đối nên nhứt nhứt ép con trai cưới cô gái mà họ đã chọn năm nào, dù cho Vũ Minh Tâm hết lòng cầu xin. Không thể cãi lời ba má, nhưng cũng không thể phụ tình người yêu ở Đà Lạt, Vũ Minh Tâm đã làm đơn xin đi lính. Trước khi đi, chàng có gửi cho người yêu một bức thư, dặn dò cô đợi chờ mà cố tình giấu chuyện gia đình ngăn cản. Tin tưởng vào lời ước hẹn tình yêu, năm nầy qua năm khác, cô giáo dạy văn Lê Thị Thảo chung thủy chờ đợi mối tình đầu, dẫu cho bao chàng trai theo đuổi cũng mặc.

Biết con trai còn nặng tình với cô gái nghèo xứ Đà Lạt, ba má chàng trai đã cho người lên Đà Lạt, nói rõ việc gia đình họ không chấp nhận một cô con dâu không tương xứng. Vài tháng sau, sợ điều đó không chia rẽ được tình cảm của đôi trai gái, gia đình Tâm đã gửi tin báo Tâm đã tử trận ở chiến trường. Chưa hết đau khổ vì không được gia đình người yêu chấp nhận, lại nghe tin người yêu đã tử trận, ngày ngày, cô giáo Lê Thị Thảo thường lên đồi thông ngồi khóc.

Nghĩ rằng sống không có được nhau, thì chết sẽ nhứt định thuộc về nhau, Thảo đã quyên sinh trên đồi thông để trọn vẹn mối tình với Tâm. Cái chết của cô giáo dạy văn hiền lành đã khiến người dân Đà Lạt vô cùng thương xót. Gia đình biết câu chuyện tình ngang trái của Thảo, đã chôn Thảo trên đồi thông ven hồ.

Nửa năm sau, Tâm trở về tìm Thảo. Hóa ra cái tin Tâm tử trận chỉ là tin giả. Sau khi hết nghĩa vụ quân sự, chàng về Đà Lạt tìm người yêu sau bao tháng bặt tin thì nghe tin sét đánh. Gia đình Thảo đưa Tâm lên ngôi mộ của Thảo trên đồi thông. Chàng trai chung tình đã khóc hết nước mắt bên nấm mồ người yêu nay đã xanh cỏ. Sau mấy ngày khóc vật vã quên ngủ, quên ăn, vừa nhớ thương người yêu, và trách giận gia đình, Tâm đã không quay về quê mà trở lại chiến trường lửa đạn.

Một thời gian sau, Tâm ngã xuống giữa chiến trường. Trong những kỷ vật của Tâm còn lại, có những dòng nhựt ký về Thảo, về câu chuyện tình bi thương của chàng trai chung tình. Tâm có viết một dòng trong nhựt ký, như lời di chúc, dặn nếu tử trận, Tâm mong được đưa về chôn cất bên cạnh mộ người yêu, trên đồi thông.

Thương xót mối tình của đôi trai gái bất hạnh, người ta đưa Tâm về, cất một ngôi mộ cho Tâm ngay bên cạnh mộ Thảo. Gia đình Thảo vẫn qua lại hương khói cho cả hai ngôi mộ. Người dân quanh vùng biết chuyện, cũng thường đến đốt nhang ở đây.

Kể từ đó, đồi thông mang tên gọi mới “Đồi thông hai mộ”. Chuyện cũng kể rằng chàng trai Vũ Minh Tâm đó là người Gò Công.

Cảm khái chuyện tình của hai người, nhạc sĩ Hồng Vân đã sáng tác bài hát “Đồi thông hai mộ” khá phổ biến…

… mộ chàng đã được ở cạnh nàng

Như lời xưa thề ước

Nằm hiu hắt đến ngàn thu an giấcdưới mộ sâu đất khô

Qua bao năm rêu xanh phủ che kín…

Biên soạn

 

Quốc lộ 50: Đọc sử bằng cách đi đường (1)

Ai mà dân miệt Cần Đước, Cần Giuộc, hoặc mé bên kia Tiền Giang, Gò Công, Chợ Gạo hay xa hơn là Mỹ Tho, thì chắc không mấy xa lạ với Quốc Lộ 50. Đây là con đường thiên lý phía Nam của thành Gia Định xưa .Vùng nầy sát nách Sài Gòn nên có lịch sử khai phá cũng cỡ lịch sử Sài Gòn.

Bây giờ gọi là Quốc Lộ 50, xưa gọi là Liên Tỉnh lộ 50, xưa nữa là con đường thiên lý chạy trạm từ Gia Định thành về Gò Công, Mỹ Tho. Chiều dài chừng 95,2 cây số, bắt đầu từ cầu Nhị Thiên Đường. Đoạn từ Bắc Mỹ Lợi về Gò Công tỉnh lỵ hồi xưa còn gọi là Lộ hàng dương.

Khởi hành nào…

1. Cầu Nhị Thiê n Đường:

Cầu Nhị Thiên Đường là cây cầu bê tông cốt sắt do Pháp xây năm hồi 1923. Nhị Thiên Đường vốn dĩ là nhà thuốc đông y của Tàu có trụ sở tại Tân Gia Ba, Mã Lai và Việt Nam, bán thuốc bắc, bán dầu cù là, dầu gió. Có cái nhà thuốc kế bên cầu tên Nhị Thiên Đường, vậy là chánh thức gọi là cầu Nhị Thiên Đường. Nhưng dân gian cũng hay gọi là cầu Chợ Lớn mới.

Cầu Nhị Thiên Đường là cây cầu linh hồn, là kỷ niệm thơ ấu của tất cả người dân nam Sài Gòn và miệt Cần Giuộc, Cần Đước, Gò Công là vì ông bà tổ tiên con cháu mấy đời đều bước qua cầu nầy trước khi vào thành đô Sài Gòn. Cứ chạy về mà thấy cầu là biết đã tới SG rồi, nên hồi nghe tin cầu sắp bị đập phá, tim nhiều người se thắt lại.

Cầu Nhị Thiên Đường rất cao, cao đến mức hồi xưa mấy ông Ba Tàu chợ Xóm Củi, Chơ Lớn chiều hay tụ năm tụ bảy ra giữa cầu đoán mưa nắng ăn tiền, gọi là hội mưa nắng. Điểm đặc biệt của công trình là hàng cột xanh rêu trên cầu  và các mái vòm cong dưới chân cầu giống nhưng các cầu cổ nổi tiếng ở châu Âu. Hồi xưa mới 6, 7 tuổi, nếu có dịp đi Sài Gòn là ba mình hay lấy cái cầu nầy làm mốc phân nội đô với ngoại thành, hễ nghe nói sắp tới cầu là biết sắp tới Sài Gòn. Mắc đái mắc ỉa cũng ráng ráng nhịn :)))

2. Đất Bình Xuyên

Chạy từ cầu Nhị Thiên Đường xuống thì sẽ đi ngang Bình Hưng, Phong Phú. Đất nầy xưa là đất Bình Xuyên thuộc tỉnh Chợ Lớn, đất thấp chằng chịt sông rạch, nước lên xuống ảnh hưởng của thủy triều sông Nhà Bè, Rạch Cát nên mùa mưa kết hợp thủy triều là ngập lênh láng.

Khu nam nầy là đất dụng võ của một nhơn vật khét tiếng giang hồ, sau làm chánh trị và có quân đội riêng gọi là quân đội Bình Xuyên, đó là ông Bảy Viễn, xưa về miệt Chánh Hưng, vùng chợ Phạm Thế Hiển tới Phong Đước ai cũng sợ ông bảy, sau ngài Tổng thống Ngô Đình Diệm đã dẹp quân Bình Xuyên để ổn định quốc gia.

Khu Bình Hưng giáp bến xe quận 8 -xưa gọi bến xe Ký Thủ Ôn, vì giáp gần sát Sài Gòn nên có rất nhiều vựa vịt, gà vịt từ miệt Gò Công, Cần Đước chở lên thì xuống ở mấy vựa vịt nầy cho nghĩ ngơi bơm xác đậu rồi mới đem vô chợ gà kế bến xe Chợ Lớn tiêu thụ. Gần đây lại có tin dẹp bến xe nầy nên nhiều người xứ Gò cũng ngơ ngác luôn

Xuống chút là Phong Phú, là do làng An Phú và Phong Đước nhập lại với nhau lập nên xã Phong Phú. Phong Phú có chợ Phú Lạc là vùng mổ heo, quay heo. Xưa vùng nam Sài Gòn nổi tiếng lò heo Chánh Hưng chuyên mổ heo gà vịt, sau đó chuyển về Phú Lạc.

Chạy xuôi xuống sẽ gặp cây cầu có tên Ông Thìn. Cầu nầy bắc qua sông Rạch Cát Cần Giuộc. Hồi xưa là cầu sắt. Thập niên 80 dân miệt dưới khổ sở vì cầu Ông Thìn yếu, đi bộ qua cầu la chí chóe. Địa danh Ông Thìn là có thực, là chỉ ông Lê Công Thìn, xưa là người bỏ tiền ra bắc cây đầu bằng gỗ đầu tiên qua sông nầy để khỏi đi đò ngang. Pháp qua làm cầu sắt và giờ là bê tông cốt thép. Mình thì có một ký ức không đẹp về ngôi cầu nầy là vì hồi học đại học, trong lúc trên đường lên lại Sài Gòn, đã tận mắt chứng kiến một tai nạn thương tâm, ngay trước mắt. Giờ nghĩ lại còn rợn da gà 🙁

Xuống nữa là đụng mũi tàu Hưng Long Tân Kim. Tân Kim, Phước Lại là quê vợ cũng là địa bàn hoạt động của ông Nguyễn An Ninh xưa. Thời bao cấp trạm thuế Tân Kim có tiếng tàn bạo tra xét người đi xe đò. Dầu hôi, thuốc Jet Hero hồi xưa đổ đống ở Tân Kim.

Tạm hết phần 1.

Phong Việt.