Tống tửu Đơn Hùng Tín

  • Tống: chia tay, tiễn biệt
  • Tửu: rượu
  • Đơn Hùng Tín: tên một nhân vật

Theo Thuyết Đường, Đơn Hùng Tín , trang chủ Nhị Hiền trang, là 1 Mạnh Thường Quân, kết nghĩa anh em và giúp đỡ rất nhiều cho Tần Thúc Bảo, La Thành, Trình Giảo Kim, …

Về sau, các ông này đều đi đầu Đường. Đơn Hùng Tín thì đầu quân Vương Thế Xung, một mình một ngựa đi giết Đường Thế Dân, lúc sau trúng mưu bị bắt, kiên quyết không hàng nên bị đem ra chém. La Thành là người xung phong chém Tín vì vốn có sự ghét từ xưa. Trước khi chém mới có màn “Tống Tửu” của mỗi người do tình huynh đệ trước đây. Lúc đó Đơn Hùng Tín chỉ uống ly của Trình Giảo Kim, còn lại đều không nhận. Khi La Thành rót rượu cho Nhị Ca mình uống, Đơn Nhị Ca chê là thằng phản bạn, “Khẩu phật tâm xà; nuôi ong tay áo nuôi khỉ dòm nhà”, không thèm uống.

Tần Thúc Bảo nghe tin chạy về nhưng đã muộn, mới có màn “Khóc Bạn” Đơn Hùng Tín.

Ân oán giữa Đơn Hùng Tín, tướng tinh Thanh Long, và La Thành, tướng tinh Bạch Hổ, còn kéo dài đến mấy đời sau. Đơn Hùng Tín oán Đường Vương, quyết tâm phá nhà Đường, sau đầu thai làm Cáp Tô Văn còn La Thành đầu thai thành Tiết Nhơn Quý đánh nhau mấy chập.

Cáp Tô Văn thua chết, lại đầu thai thành Dương Phàm, aka chồng hứa hôn của Phàn Lê Huê đó, dùng phép làm Tiết Đinh San bắn chết Tiết Nhơn Quý, coi như đã trả nợ xong (coi tuồng Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê) . Ai ngờ Tiết Ứng Luông lại giết Dương Phàm, nên nợ vẫn còn.

Dương Phàm này đầu thai thành Tiết Cương, là nguyên nhân cả nhà họ Tiết bị chém.


Trong bản nầy có nhiều thành ngữ khá hay:

  • Thố tử hồ bi tri loại: là con thỏ chết thì con chồn thương xót, đồng loại thì thương xót nhau.
  • Thiên niên mai cốt bất mai tu : Mai là chôn còn tu là xấu hổ, ý là ngàn năm chôn xương chớ không chôn được tiếng xấu, cùng nghĩa với câu cọp chết để da người chết để tiếng.
  • Tiền đồng tịch kim bằng cộng lạc, hậu lâm nguy bất kiến đệ huynh: lúc đầu là anh em chia ngọt xẻ bùi, lúc lâm nguy anh em thân thiết cũng không muốn gặp.
  • Ninh thọ tử, bất ninh thọ nhục: Thà chịu chết chứ không chịu nhục
  • Nhơn phi nghĩa bất giao, vật phi nghĩa bất thủ: đứa bất nghĩa thì đek chơi, đồ bất chánh thì đek lấy. Phải có sĩ diện
  • Dưỡng hổ di họa, phóng ngư nhập thủy túng hổ quy sơn: nuôi cọp khiến sau này gặp nạn. Thả cá vào biển, thả cọp về núi. Bắt tướng giặc mà thả đi, thì khôn trông bắt đặng nữa, lại còn phải lo nỗi nó vềmà lập trận khác.
  • Chó nhà đạo chích còn sủa vua Nghiêu (Chích khuyễn phệ Nghiêu): chó sủa vì lạ mặt, không phải vì ông Nghiêu bất nhơn ; làm tôi ai thì biết nấy.

Nghe bản nầy của Diệp Lang ca theo điệu Xuân Tình, đoạn Đơn Hùng Tín chia tay Trình Giảo Kim, cũng như chửi vô mặt La Thành như thằng phản bạn.

Bật bản này lên, nhắm mắt lại, nuốt từng chữ trong lời ca hòa theo điệu Xuân Tình. Thấm thía sự đời, hay!

 

Coi lợi tuồng cải lương: LƯƠNG SƠN BÁ CHÚC ANH ĐÀI

Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài là một tích Tàu khá nổi tiếng mà chắc ai trong chúng ta cũng từng nghe qua. Trong cải lương, tuồng nầy cũng khá nổi tiếng, nhứt là trong phong cách cải lương Hồ Quảng.

Lạm bàn

Thường người ta phân loại ra ba loại tuồng cải lương: xã hội, dã sử và Hồ Quảng. Tự Ðiển Mở Wiki gọi “cải lương Hồ Quảng” bằng một tên nữa là “cải lương tuồng cổ.” Cái tên nầy giúp người ta hiểu được tổng quát về nội dung của loại hình nghệ thuật trình diễn nầy. “Cải lương Hồ Quảng” cũng là cải lương, nhưng tuồng tích dựa vào những tuồng cổ, mà thường là tuồng cổ Tàu.

Nhiều người cho là nó không thuần Việt và hoàn toàn Tàu, mình thì không đồng ý quan điểm trên. Rõ ràng có sự vay mượn nhưng hoàn toàn mang một sắc thái riêng. Có thể nói đây là loại hình cải lương có nguồn gốc phức tạp từ cải lương Nam Kỳ, hát bội, Kinh kịch, kịch Quảng Đông, võ thuật, nhạc Đài Loan… Tuy nhiên, qua cách trình diễn của các nghệ sĩ An Nam, tất cả các loại hình nghệ thuật nầy phối hợp nhuần nhuyễn với nhau, tạo thành một sắc thái riêng. Khán giả thưởng thức một vở tuồng diễn theo lối cải lương Hồ Quảng nhìn thấy ngay là nó rất Việt Nam, không lẫn với ca kịch Trung Hoa được. Ðó là cái tài của người nghệ sĩ, mà đó cũng là cái đặc thù của văn hóa Nam Kỳ, đón nhận cái của người, nhưng biến hóa nó, thăng tiến nó để nó hay hơn, đẹp hơn mà lại có tính chất Việt Nam.

Lương Sơn Bá- Chúc Anh Đài

Tích Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài về nàng Chúc xinh đẹp cải nam trang đến Nghi Sơn học tập, vô tình cờ gặp gỡ một thư sinh thật thà là Lương Sơn Bá. 3 năm học hành với nhau, Chúc sanh tình với họ Lương nhưng Lương Công tử hoàn toàn không nhận ra. Ngày chia tay, Chúc hứa sẽ mai mối em gái cho Lương. Khi Lương đến thì mới biết người con gái đó chánh là Chúc Anh Đài.

Tưởng chừng đến được với nhau, nhưng họ Chúc đã được phụ mẫu hứa gã cho Mã Văn Tài cũng là đồng môn hồi ở Nghi Sơn. Phiền muộn, Lương Sơn Bá qua đời khi đương nhiệm quan tri huyện. Ngày rước dâu ngang qua mộ chàng Lương, bỗng cơn cuồng phong nổi lên, mộ phần Lương Sơn Bá mở ra và Chúc Anh Đài đi vào trong đó. Sau đó, từ trong mộ, một đôi bướm rất đẹp quấn quýt bên nhau và cùng bay đi, bên nhau hạnh phúch.

Tuồng cải lương

Mình coi tuồng nầy lần đầu do Phượng Mai diễn hồi còn truyền hình đen trắng, giờ kiếm lại video đó thì không hấy nữa. Cũng nói thêm, trong các nghệ sĩ cải lương thì Phượng Mai được mệnh danh là Hồ Quảng chi bảo. Mình nhớ hoài một giọng ca thanh trong, một vóc dáng nhỏ nhắn, một gương mặt thanh tú . . . tất cả đã tạo nên một Phượng Mai tài sắc vẹn toàn, một nét riêng không lẫn với bất kỳ nghệ sỹ nào.

Coi Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài dễ thấy nhứt sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cải lương nguyên thủy, ca kịch Quảng đông kết hợp vũ đạo và nhạc truyền thống Nam Bộ.

Dưới đây là trích đoạn hay lúc Lương Chúc tạn mặt và kết nghĩa huynh đệ, tên đường  đến Nghi Sơn. Lớp diễn cũng khá hay với tài ứng biến và tung hứng của Vũ Linh và Kim Tử Long.

 

Coi lợi lớp hát “Giọt máu chung tình”

“Giọt máu chung tình” ban đầu là một tiểu thuyết hoa tình của Tân Dân Tử được ấn bản lần đầu ở Sài Gòn hồi những năm 1920. Với câu chuyện về tình yêu của Võ Đông Sơ và Bạch Thu Hà. Tiểu thuyết nầy sau được các soạn giả cải lương chuyển thể thành các tuồng hát, mà nổi tiếng nhứt có lẽ là tuồng “Giọt Máu Chung Tình” của đoàn Bạch Công tử Lê Công Phước George với cô đào Phùng Há trong vai Võ Thu Hà.

Nhiều bạn cứ nghe qua Võ Đông Sơ Bạch Thu Hà qua vài câu hát hay cất lên lúc trà dư tửu hậu trong bản vọng cổ Võ Đông Sơ của soạn giả Viễn Châu “biên cương lá rơi Thu Hà em ơi….”, nhưng cũng không nhiều bạn biết rõ về thiên tình sử nầy.

Chuyện kể là…

Võ Đông Sơ là con của Hoài Quốc công Võ Tánh và công chúa Ngọc Du. Bạch Thu Hà là con quan Tổng trấn Tây Thành Bạch Công. Sau khi Võ Tánh tuẫn tiết, Võ Đông Sơ sống với người chú ruột miệt Bình Định luyện võ, ôn văn chờ dịp đền ơn vua trả nợ san hà. Lúc bấy giờ có giặc Tàu Ô đang hoành hành, triều đình mở khoa thi để chọn tướng tài dẹp giặc. Võ Đông Sơ ra kinh ứng thí. Trong thời gian lưu lại ở kinh kỳ, chàng làm quen với Triệu Dõng – một người con có hiếu “bán kiếm báu” nuôi mẹ. Cũng tại đây Võ Đông Sơ gặp phải sự đố kỵ tài năng văn võ và sự ganh tỵ của Bạch Xuân Phương – anh ruột của tiểu thư Bạch Thu Hà, là một công tử rất độc ác, bất tài, hãm hại Võ Đông Sơ nhiều lần suýt mất mạng nơi xứ lạ.

Trong một lần Võ Đông Sơ ra tay đánh bọn cướp cứu tiểu thư Bạch Thu Hà trên đường đi lễ chùa, đôi trai tài gái sắc đã phải lòng nhau. Dưới ánh trăng rằm, bên ngôi cổ tự, hai người đã thề nguyện chuyện trăm năm. Sau đó, Võ Đông Sơ thi đỗ võ quan được phong làm đô úy lãnh quân đi dẹp giặc quấy phá. Ở nhà, Bạch Thu Hà bị gia đình bắt phải lấy một tên bạn của anh trai Bạch Xuân Phương tên là Trần Xuân. Bạch Thu Hà bỏ trốn khỏi nhà, thân gái dặm trường phiêu bạt đi tìm người yêu Võ Đông Sơ. Trong cơn hoạn nạn, Bạch Thu Hà được Triệu Dõng và em gái Triệu Dõng là Triệu Nương cứu giúp thoát khỏi tay chủ sơn trại Nhứt Lang ép làm vợ.

Sau cùng, Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà lại được trùng phùng nhưng không lâu sau, biên ải có giặc xâm phạm, vua ban chiếu cử Võ Đông Sơ cầm binh lên Lạng Sơn đánh đuổi giặc xâm phạm bờ cõi. Nhiều trận đánh nhau ác liệt, Võ Đông Sơ bị tử trận. Trong phút giây hấp hối chàng không ngừng gọi tên Bạch Thu Hà và nhắn gởi ba quân báo hung tin cho nàng hay. Bạch Thu Hà đã khóc thảm thiết bên linh cữu Võ Đông Sơ và dùng gươm báu quyên sinh để giữ trọn chung thủy với người tình.

Đây là một lớp diễn chân phương, nhiều xúc động của cô đào Kiều Oanh trong phim Đất Phương Nam lúc Bạch Thu Hà chuẩn bị quyên sinh để giữ trọn lời thề. Phải nói thêm là Kiểu Oanh là cô đào được đào tạo ca diễn cải lương, nhưng cuối cùng lại chọn hài kịch làm nghiệp gắn bó. Giọng Kiều Oanh dầy, nhấn nhá rất chân phương nhiều cảm xúc.

Vĩnh biệt cô Út Bạch Lan

1ut12_647d6

“Đệ Nhứt Đào Thương” Út Bạch Lan tên thực là Đặng Thị Hai sanh 1935 ở Đức Hòa Long An, cha là ông nài ngựa Nguyễn Văn Chưa, mẹ là Đặng Thị Tư mần ruộng. Năm 1945 hai vợ chồng ông Chưa bỏ nhau, bà Tư dắt díu con gái về Chợ Lớn kiếm kế sanh nhai. Tại đây bà Tư cùng với mẹ ông Văn Vĩ làm chị em, Văn Vĩ bị mù nhưng có ngón đờn cũng thuộc loại “quỷ khốc thần sầu”, ở nhà má gọi cô con gái của mình là bé Út hay Út lùn. Năm 12 tuổi bé Út trốn mẹ dắt Văn Vĩ đi hát dạo kiếm tiền, anh mù đờn cô em gái ca, họ đi bộ từ Chợ Lớn xuống Vườn Chuối, qua cột cờ Thủ Ngữ, ở bến tàu rồi đóng đô ở chợ Bàu Sen.

Thời thập niên 1930 ở Sài Gòn trong giới đờn ca tài tử nổi danh cô Năm Cần Thơ, cô Năm Cần Thơ có biệt danh là Chim Họa Mi. Cô Năm mở đầu cho việc thâu dĩa BKA của Pháp ở Sài Gòn. Biệt danh Chim Họa Mi của cô Năm Cần Thơ có là khi cô ca bài vọng cổ Chim Họa Mi 20 câu của soạn giả Viễn Châu sáng tác cho cô ca trong quán Lệ Liễu. Sau đó cô Năm Cần Thơ mở quán ca nhạc Chim Họa Mi trong khu Đại Thế Giới.

Chính cô Năm Cần Thơ phát hiện giọng lạ ở cô bé hát rong tên Út ở ngoài chợ Bàu Sen rồi tìm đến mời cô bé về thâu dĩa một bài ca cổ, rồi đài phát thanh Pháp Á thâu giọng hát cô bé. Nhạc sĩ Jean Tịnh và ca sĩ Thành Công đã mời 2 người bạn nhỏ Văn Vĩ và bé Út tham gia ban nhạc Thành Công của đài phát thanh Pháp Á, đó là năm 1950.

Tại đây bé Út được đặt nghệ danh Bạch Lan, đài Pháp Á đặt Bạch Lan để đối chọi với cô Bạch Huệ lúc đó bên đài phát thanh quốc gia, bé Út xin giữ lại tên của mình, vậy là từ đó có Út Bạch Lan.

Út Bạch Lan có giọng ca thiên phú buồn rười rượi, giọng đồng pha thổ nghe thương cảm chơi vơi,cách lấy hơi nhẹ nhàng như đang nói chuyện .Từ ca cô Út Bạch Lan qua bên gánh hát đi từ vai quân sĩ, nữ tì rồi đào ba, đào nhì, đào nhứt, Út Bạch Lan lên đào chánh ở đoàn Thanh Minh Thanh Nga trong tuồng cải lương “Khi hoa anh đào nở” đóng cặp kép chánh Thành Được.

43-1433128379980

Út Bạch Lan có vô số biệt danh, từ đệ nhứt đào thương, nữ hoàng sầu mộng, vương nữ sương chiều,…. Nhưng dân Nam Kỳ quen gọi cô là “Sầu nữ Út Bạch Lan”, cô Út vừa qua đời ở tuổi 82

Lan Huệ sầu ai Lan Huệ héo
Lan Huệ sầu đời trong héo ngoài tươi

Huệ (cô Bạch Huệ) và Lan đều đã rời cõi tạm bay về Trời, bỏ lại sự ngậm ngùi cho người mộ điệu, có lẽ sẽ không bao giờ có được một Bạch Huệ, Bạch Lan trên đời này nữa đâu. Họ đều là “đệ nhứt”, mà đã là duy nhứt thì làm gì có cái thứ hai nữa.

Nam Xuân Nam Ai- Tô Huệ- Chức Cẩm Hồ Văn

Nam Việt

Thể điệu: Lý cây bông

Bông xanh, bông trắng rồi lại vàng bông, ơi người ơi!
Bông lê sao bằng bông lựu, ơi người ơi!
Rằng a ý a đố rằng, bông rồi lại mấy bông.
Rằng a ý a đố rằng, bông rồi lại mấy bông./.

Chắc trong chúng ta không ai không biết bản dân ca Nam Kỳ nầy, những câu ca gắn liền với tuổi thơ, từ những ngày bập bẹ biết hát ca.

Hoặc ở quê mình thì hay nghe câu nầy, nhứt là mấy buổi chiểu loa phóng thanh hay phát

Trăng lên soi sáng đồng ruộng miền quê, ôi Gò Công
Trăng lên cao càng soi rộng, ôi dòng sông.
Hàng cây trái sai trĩu cành. Khoe mình đẹp trước trăng.
Xuồng ai lướt xuôi theo dòng, trăng hoà cùng bóng em .

Trong sân khấu cải lương, điệu lý nầy cũng rất thường xuyên được xử dụng, coi một số video nhé.

Teaser bản vọng cổ- Mùi Quê

Hôm bữa có đăng một bài với nội dung là đương tập tành biên ca cổ- Tập tành biên ca cổ. Kết quả là có “fan hôm mộ” thâu âm rồi gởi bản thâu tạm dưới đây.

Nghe lợi có đôi chổ nghe chưa có mướt, chắc là chỉnh sửa lại câu chữ. Về bố cục , căn bản là mình khoái mấy bản ca cổ ngoài giai điệu chủ đạo của bản Vọng Cổ thì nên chèn thêm các điệu lý, bài bản vắn… Việc nầy làm người nghe đỡn “ngán”, không còn cảm giác bi thương khi nghe thể loại nầy.

Nói giỡn chứ có dịp sẽ biên lại, thâu bản đầy đủ để nghe thử coi sao. Nhưng mà bạn nghệ-sĩ cải-lương tương-đối-nổi-tiếng nầy đang đòi ký công tra, rồi chia catse nầy nọ. Thiệt là khó nghĩ cho người “soạn giả” nghèo 🙂

Mà cũng đang suy nghĩ “Bút danh soạn giả”, haha. Có ai có cao kiến gì không?

Ba bản Văn Giỏi

Ai mà có để ý đờn ca tài tử, cải lương thì chắc không xa lạ với Danh cầm Văn Giỏi cùng 3 bản nổi tiếng của ông, mà dân trong giới hay gọi nôm na là 3 bản Văn Giỏi: Phi vân điệp khúc, Đoản khúc lam giang và Vọng Kim Lang.

Năm 1976, dựa trên nền nhạc thang âm ngũ cung của âm nhạc cải lương, Nhạc sĩ Văn Giỏi (lúc này đương làm việc ở Đài tiếng nói Saigon) đã sáng tác hai giai điệu mới là Phi Vân điệp khúc và Đoản khúc lam giang. Kết hợp với âm hưởng của ca nhạc Huế và dân ca Nam kỳ, hai giai điệu trữ tình này lúc man mác du dương, lúc dịu êm sâu lắng nên nhanh chóng tạo hiệu ứng mạnh mẽ trong lĩnh vực cải lương. Sau đó, cùng với thầy đờn tranh Thanh Hải, ông cải biên lớp dạo đầu của giai điệu Vọng kim lang, dân ca Liên khu 5, làm nên một phong cách mới mẻ. Từ đó tới bây giờ, hầu hết các tác giả viết vọng cổ và kịch bản cải lương đều chú ý đến 3 giai điệu nầy để có thể đưa vào trong các sáng tác của mình. Ba bản nầy có thể xuất hiện ở nhiều tình huống, hoàn cảnh kịch, có khả năng kết hợp rộng trong hội thoại, đối thoại, độc thoại và xử dụng độc lập.

Điểm đặc biệt của 3 bản là các câu CHẦU- những khúc luyến thoắn để người đờn có thể khoe ngón đờn của mình.

Vọng Kim Lang- bản phối Phi Nhung- Thúy Nga Paris

Đoản khúc lam giang

Ba bản Văn Giỏi:

 

Đờn chơi: Thuyền hoa

Thuyền Hoa là một bản khá nổi tiếng của nhạc sỹ Phạm thế Mỹ, bên cạnh bản Bông Hồng Cài Áo. Bản Thuyền Hoa này thưởng được xử dụng trong các đám cưới Nam Kỳ ngày hồi khoảng những năm 90, hoặc được chèn vô mấy cái băng Video đám cưới, nhứt là những cảnh lúc rước dâu.

 

Từ Hán Việt trong cải lương

Ai mà thường nghe cải lương, đặc biệt là các tuồng tích cổ, tuồng tích Tàu.. sẽ rất thường hay băt gặp các từ Hán Việt. Có thể mình biết cái nó ám chỉ cái gì nhưng điển tích phía sau thì có thể không biết.

Sẳn dịp nay quởn, ngồi nhớ rồi biên lợi mấy từ ngữ liên quan đến đôi lứa, quan hệ gia đình mà các tuồng cái lương hay xử dụng:

Từ cải lương

Cắt nghĩa

Ý chỉ

Sắc cầm hảo hiệp/hợp Cầm là đờn cầm, có bảy dây; sắt là đờn sắt, có hai mươi lăm dây; hai cây đờn này phải đi đôi với nhau thì cung điệu nhạc mới hay Hòa hợp, hạnh phúc
Loan phụng hòa minh Chim loan chim phụng cùng hót đôi lứa hạnh phúc
Loan phiêu phụng bạc chim phượng chim loan tách rời tan tác chia ly, ly tán
Uyên ương là một loài chim nước, con trống gọi là uyên, con mái gọi là ương Đôi lứa
Yến oanh Chim yến, chim oanh. Hai loài này nhỏ nhắn bay lượn hót vang Đôi lứa đang vui vẻ, hạnh phúc
Trúc mai từ ghép tên cây mai và cây trúc Có đôi có cặp
Bạn loan Bạn là bè bạn, bạn hữu; loan là keo của chim loan, một loại keo rất chắc gắn bó keo sơn bền bĩ của vợ chồng
Châu Trần Châu Trần là hai họ thân thiết, và hay gã con cái cho kết hôn với nhau trong sử Tàu Hôn nhơn
Tham vàng bỏ ngãi Ngãi =nghĩa Tham sang phụ khó
Đá vàng Hai vật đá và vàng, tuổi thọ cao Ý chỉ sự sắc son chung thủy
Cô phòng Cái buồng chỉ ở được 1 người Chỉ đàn ông độc thân — Cũng chỉ người con gái chưa chồng, hoặc đàn bà goá.
Ba sinh Do chữ “Tam sinh” nghĩa là ba kiếp luân chuyển: kiếp này sang kiếp khác. Duyên nợ phải làm vợ chồng với nhau do số kiếp tiền định.
     
Phụng cầu hoàng Chim phượng trống tìm chim phụng mái Tìm kiếm một nửa
Tam tùng/tòng Là 3 nguyên tắc của giáo lý phong kiến Tàu (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử) Son sắt, chung thủy của đờn bà xưa
Thuyền quyên (phận gái) Thuyền Quyên là tên một cô gái học trò của Khuất Nguyên (tích Tàu), khi Khuất Nguyên hoạn nạn  chỉ có Thuyền Quyên một lòng hầu thầy vì nàng đã yêu Khuất Nguyên Người con gái đẹp nhưng lận đận trong tình yêu
Thân phụ (ba ruột), Kế phụ (ba ghẻ), Dưỡng phụ (ba nuôi), Nghĩa phụ (ba đỡ đầu)
Sanh/từ mẫu (mẹ ruột), kế mẫu (mẹ ghẻ), Dưỡng mẫu (mẹ nuôi), Thứ mẫu (vợ bé của ba), Nhũ mẫu (vú nuôi)
Bá phụ (bác), thúc phụ (chú), thẩm (vợ chú), tức (dâu), tế (rể), tẩu (chị dâu)

Tạm gác, bữa nào quởn nghe cải lương rồi biên tiếp.

Tập tành viết ca cổ

Ai có đọc qua blog nầy thì cũng biết là mình khoái đờn ca tài tử, cải lương, cổ nhạc. Mà chắc cũng không lạ nếu mình nói sẽ tập tành viết một bản nghe chơi. Ahihi

Nghe thì thấy dễ chứ đưa viết xuống biên thì quả thiệt không đơn giản chút nào. Làm sao để câu chữ có ý nghĩa, lại theo bài bản và tiết tấu là cả một vấn đề.

Bài ca đầu tiên tập tành biên, mình đặt tên là Mùi Quê. Xin nhá hàng mấy câu đầu, khi nào hoàn thiện sẽ nhờ người hát và chia sẻ rộng rãi.


MÙI QUÊ

điệu Khốc Hoàng thiên:

(gối đầu) Hôm nay một sáng mùa xuân, anh cùng em bước đăng…trình, về nơi chôn nhao cắt rốn, nơi mà mình cùng nhau khôn lớn. Nơi tuổi thơ mình êm ả trôi xa, nơi kỷ niệm đã đong đầy. Nơi có dòng sông nhỏ lao xao, cánh đồng khóm trúc cạnh mé ao. Nơi ta trải qua những tháng ngày cơ cực, nghèo tuy nghèo nhưng tình nghĩa bao la. Nay đi xa mới dịp trở về, ôi lòng đầy vấn vương. Ôi quê hương hai tiếng ngọt ngào, bao ngày đã đợi trông….

Vọng cổ:

(nói gối đầu) Nắm lấy tay nhau anh trước em sau ta cùng nhau quay về những ngày xưa yêu dấu, nơi tiếng mẹ đâu đó văng vẳng khúc ca dao bên hàng dừa xanh ngắt nghiêng bóng đong đưa đưa em vào giấc ngủ những trưa… hè. Nơi ấy thân thương dù đi đâu cũng trở về, thèm chút hương thơm của mùa lúa chín, đám lúa đốt đồng những làn khói trắng lan bay. Bóng những cây gòn soi xuống những dòng kinh, vẳng bên tai tiếng ai hát vang lừng. Mấy đứa tụi mình đâu có sợ nắng cháy da, cứ thoả sức hoan ca, dưới trưa hè chang chang nắng …

Bao năm qua cây gòn còn trơ trơ bóng, dẫu đã trải qua bao thế sự đổi dời. Mỗi độ hoàng hôn tắt hẳn ánh mặt trời hồng, cây gòn trơ mình in hình lên mặt nước, thân gầy gò cành lá đã trụi lơ. Đường vào nhà khói bụi mấy dãi bờ đê, bên bờ sông dải lúa mùa đang trỗ hạt. Dân quê mình đã qia bao ngày khó nhọc, để làm nên hình hài dáng vẻ làng quê ta….