Coi lợi tuồng cải lương: ĐƯỜNG GƯƠM NGUYÊN BÁ

“Trong buổi dạ yến do Sứ quân khoản đãi mừng chiến thắng. Thượng tướng Nguyên Bá đã tỏ tình cùng Thủy Cúc vì không biết nàng là hôn thê của thái tử Ngũ Châu. Biết được việc này, Ngũ Châu tìm đến tận tư dinh của Nguyên Bá toan giết chàng vì cho là mình bị sỉ nhục. Sứ quân đến kịp ngăn cản trận đấu và trừng phạt Ngũ Châu bằng cách buộc Ngũ Châu phải theo Thiền Sư Đông Sơn lên núi Triều Vân học đạo 3 năm.

Để thử lòng người mình yêu mến, sứ quân ra lệnh Nguyên Bá đưa Thủy Cúc lên núi Triều Vân thăm Thế tử Ngũ Châu rồi Ngài cải trang theo dò xét. Dịp đó sứ quân biết Ngũ Châu không học đạo mà chỉ luyện võ nên chưa sửa đổi tâm tính tiểu nhân, cho đến khi Ngũ Châu ra lệnh Nguyên Bá hủy họai nhan sắc Thủy Cúc thì Sứ quân xuất hiện trừng phạt cả hai thầy trò bằng cách buộc Thiền Sư Đông Sơn phải cắt thủ cấp Ngũ Châu. Con của Thiền Sư là Lâm Vũ tự sát để lấy thủ cấp cho Đông Sơn mang về kinh dâng nạp. Nơi đây, sứ quân buộc Đông Sơn phải cho Lâm Vũ thay Ngũ Châu nối ngôi Ngài, Đông Sơn đành chấp thuận và hẹn một năm sau. Sứ quân cũng ra lệnh tác hợp Nguyên Bá và Thủy Cúc, nhưng chàng không chấp thuận nên bị hạ ngục.

Một năm sau … Thiền sư trở xuống kinh đô báo tin Lâm Vũ đã chết. Sứ quân ra lệnh tha Nguyên Bá và yêu cầu chàng kế vị mà lo cho trăm họ. Bấy giờ, Nguyên Bá mới tiết lộ sự thật: Một đêm mưa năm trước, chàng đã bị kẻ gian ám hại, nhưng đã bị chàng chặt đứt một cánh tay, cũng nhờ vậy Nguyên Bá biết kẻ đó là Thế Tử Ngũ Châu. Chàng tin rằng sau một năm học đạo, Thế tử đã trở nên người xứng đáng để nối ngôi trời. Thiền sư Đông Sơn cũng nhìn nhận sự thật.

Sứ quân truyền ngôi cho Ngũ Châu rồi cùng Nguyên Bá ngao du sơn thủy. Còn Thiền Sư Đông Sơn trở về Triều Vân và yêu cầu đừng ai tới lui thăm viếng cho đỉnh non cao đừng vướng bụi kinh thành”

Tuồng nầy mình mới nghe gần đây và rất thích thú. Thích thú với nhân vật, cốt chuyện, tính nhân văn và cả ca diễn của các nghệ sĩ.

Hễ có sanh ắc là có tử, có trùng phùng ắc sẽ có phân ly, cuộc đời đâu có thay đổi chi…

Vẫn như thường lệ, Thanh Sang và Hồng Nga với hai vai phụ, quá xuất thần khi thể hiện tình cảm mẫu tử thiêng liêng và trọng trách của người giữ ngai vàng khi đứng trước lựa chọn giữa Triều cang và Gia thất. Hai vai diễn này về sau cũng có vài người ca diễn nhưng hoàn toàn không vượt được bản thâu ban đầu nầy.

  • Tuồng: Đường gươm Nguyên Bá
  • Tác giả: Hoa Phượng
  • Đạo diễn: Loan Thảo – Hoàng Việt
  • Cổ nhạc: Văn Giỏi
  • Nghệ sĩ: Minh Vương (Nguyên Bá), Thanh Tuấn (Ngũ Châu), Thanh Sang (Sứ quân), Hồng Nga (Sứ quân phu nhơn), Chí Tâm (Đông Sơn Thiền Sư), Thanh Kim Huệ (Thủy Cúc)…

Tương truyền về bản VĂN THIÊN TƯỜNG

Trong cổ nhạc Nam Kỳ có một điệu tên là Văn Thiên Tường, ngoài điệu Tứ Đại Oán, thì có lẽ Văn Thiên Tường là một trong những điệu ca mùi nhất.Lời lẽ bi thương nhưng trầm hùng tình cảm dạt dào, soạn giả thường dùng điệu hát này để cho các nhân vật giải bày tâm sự. Càng nghe điệu này càng cảm động rơi nước mắt .

Tác giả tương truyền là ông Ký Qườn – Trần Văn Quờn ở xứ Vĩnh Long ,điệu này ra đời vào những năm 20 thế kỷ trước. Tuy nhiên, cũng có tương truyền khác là bản Văn Thiên Tường do ông Trần Quan Thọ, một nhạc công của triều đinh, vô cư ngụ tại đất Mỹ Tho sáng tác vào cuối thế kỷ 19. Ông cảm cảnh nhà yêu nước Thủ Khoa Huân nổi lên chống Pháp (trào vua Tự Đức), giống với hoàn cảnh của ông Văn Thiên Tường vị quan trào Nam Tống (TQ) chống giặc Nguyên xâm lăng, cả hai cuộc kháng chiến đều thất bại, hai ông đều bị giặc bắt, tù đày và đến khi bị xử tử vẫn hiên ngang khí tiết. Ông Trần Quan Thọ mới mượn cái tên Văn Thiên Tường để nói về ông Thủ Khoa Huân hòng tránh tai mắt.

Nho gia đề cao chữ ” Trung quân” không thờ 2 chủ mà nhiều người gọi nôm na là cứng đầu , dân ghét nho gọi là ngu trung . Nhưng nói gì thì gì, sự trung thành, thành thực của một bầy tôi vẫn là điều mọi người kính trọng.

Ở Việt Nam ta có một giai thoại về chuyện thờ 2 chủ này .

Khi Pháp qua VN, Tôn Thọ Tường rủ bạn là tiến sĩ Phan Hiển Đạo ra cộng tác với Pháp, Pháp mua chuộc tiến sĩ Phan bằng mọi cách .Bản thân tiến sĩ chưa trả lời có cộng tác hay không thì chuyện tới tai cụ Phan Thanh Giản ,cụ nhắn với tiến sĩ Phan Hiển Đạo rằng :” Thằng Tường thì không sao chứ thằng Đạo thì không được vì nó đã hưởng lộc triều đình” , rồi viết mấy chữ “Thất thân chi nữ, hà dĩ vi trinh” (Con gái đã bị thất thân, sao cho là trinh được) ”

Bế tắc, tiến sĩ Phan Hiển Đạo đã tự tử khi mới 42 tuổi, bản thân ông là một bậc thầy đờn kìm trong đờn ca tài từ của xứ Định Tường .

Phong Việt.

Điệu Văn Thiên Tường

Chúng ta nghe lại điệu Văn Thiên Tường lớp dựng do Phượng Liên ca trong trích đoạn ” tuyệt tình ca”

Playlist cuối tuần – VÀO MIỀN NAM

Vô tình hôm nay vào phòng tập nghe được playlist này, mình đặt tạm tên là VÀO MIỀN NAM, muốn chia sẻ cùng mọi người 🙂

VÀO MIỀN NAM

TỰ TÌNH QUÊ HƯƠNG

NẮNG  ĐẸP MIỀN NAM

TÌNH LÚA DUYÊN TRĂNG

TRĂNG VỀ THÔN DÃ

GIÒNG AN GIANG

 

Coi lợi tuồng cải lương NÀNG HAI BẾN NGHÉ

Nàng Hai và Tri yêu thương nhau nhưng vì hoàn cảnh éo le nàng phải nhận lấy lãnh binh Sắc làm chồng. Một lần thua trận, Sắc bị quan trên khiển trách, sẵn mang tâm trạng buồn bực, nên khi nghe quân mật báo việc Tri thường có cử chỉ thân mật với vợ mình, Sắc rất ghen tức. Một hôm Sắc cho người giả danh vợ mời Tri tới nhà bàn công việc gắp. Khi hai người gặp nhau, Sắc rời khỏi nơi ẩn nấp bước ra tri hô, ghép họ vào tội lăng loàn và cho lính đóng bè thả trôi sông cả hai người.

Một hai hôm sau viên quan ba Barbé, đóng binh ở chùa Khải Tường đang đi săn, bất ngờ gặp một bè chuối trôi trên đó có một người đàn ông và một người đàn bà. Theo dòng, hai con sấu lớn hung hãn, quẫy đuôi bám riết đuổi theo bè. Barbé liền nổ súng, sấu sợ hãi lặn trốn mất. Khi bè được vớt lên, người con trai tức Tri bị sấu cắn cụt mất một chân, đã chết. Phần người con gái là nàng Hai còn thoi thóp thở. Sau khi được chăm sóc, thấy cô trẻ đẹp nên Barbé ép cô phải chung sống với mình. Nàng Hai ưng thuận với điều kiện là được trở về nhà để thu xếp việc riêng.

Gặp nàng Hai về, Lãnh binh Sắc cho bắt cô với lời cáo buộc: tội thông đồng, mãi dâm với đối phương. Sắc cho giam nàng Haai dưới hố sâu, cho ăn xương cá và cơm hẩm. Thời may Trương Định đi tuần ngang, lệnh cho đem cô lên và nghe hết mọi chuyện oan trái này…

Nơi chùa Khải Tường, hôm đó trời vừa sụp tối, nghe lính canh báo tin có Nàng Hai đến xin gặp. Barbé mừng rỡ phóng ngựa ra đón. Còn cách cô gái chừng mười thước, quân Việt mai phục hai bên đường ào ra. Ngựa bị giáo dài đâm ngã quỵ, hất Barbé ngã xuống và lập tức bị chém chết. Hôm đó là ngày 7 tháng 12 năm 1860.

Hơn hai tháng sau, viện binh của Pháp từ Thượng Hải kéo đến Sài Gòn rầm rộ. Sau vài trận chiến ác liệt, đại đồn Chí Hòa bị hạ. Sau những ngày mịt mù khói lửa ấy, không ai tìm thấy cô gái nơi đâu, chẳng biết sống hay đã chết. Nhưng trong dân gian còn truyền tụng mãi hình ảnh người thiếu phụ bị thả trôi sông và đã góp công chống Pháp.

–       Viên sĩ quan Barbé chết, quân Pháp rất tức giận. Bởi vậy, họ chiếm lấy tấm bia đá (trên có khắc bi văn của Phan Thanh Giản soạn năm 1858) do vua Tự Đức sai chở từ Huế về Gò Công, để dựng nơi mộ ông ngoại mình là Đức Quốc công Phạm Đăng Hưng (lăng hoàng gia ở bài viết trước), làm bia mộ Barbé ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi (cũ). Mãi cho đến năm 1999, tấm bia mới được dựng tại mộ ông Hưng, tính ra tấm bia đá mang tên hai người chết một Pháp một Việt này đã luân lạc đúng 140 năm (1859-1999).

–       Chùa Khải Tường là một ngôi cổ tự, trước đây tọa lạc trên một gò cao tại ấp Tân Lộc, thuộc Gia Định xưa; nay ở khoảng khu vực Bảo tàng Chứng tích chiến tranh, Sài Gòn. Năm 1858, khi Pháp chiếm Sài Gòn, Đại úy Thủy quân lục chiến Pháp tên Barbé nhận nhiệm vụ dẫn quân vào chiếm giữ. Barbé cho đem tượng Phật bỏ ngoài sân, cưỡng bức các sư phải rời chùa.

–       Thời gian sau nữa, trên nền chùa bỏ hoang này, Pháp cho xây cất một dinh thự dành cho quan chức trong bộ máy cai trị. Trước năm 1963, dùng làm Trường Đại học Y dược. Sau khi chế độ của Tổng thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ, các tướng lãnh cho các cố vấn quân sự đến trú đóng.

–       Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, cơ sở trên được dùng làm Bảo tàng Chứng tích chiến tranh.

 

Một bản nhạc hay – “Ly rượu mừng”

Khảo sát nhanh: Mấy ngày Tết, nhà bạn nếu có nghe nhạc thì sẽ nghe những bản nào sau đây?

  • Xuân này con không về
  • Nếu xuân này có em
  • Ly rượu mừng
  • Đoản xuân ca
  • Tâm sự ngày xuân
  • Xuân họp mặt
  • Mùa xuân trên Thành phố Hồ Chí Minh
  • Xuân chiến khu
  • Trị An âm vang mùa xuân
  • Đảng đã cho ta mùa xuân

Mình có hỏi vui những câu hỏi nầy với một vài bạn bè thân thiết, không bất ngờ thi không ai nhắc gì đến 4 bản nhạc cuối trong danh sách. Đủ để thấy sức mạnh của văn hóa Miền Nam rực rỡ như thế nào trước 75.

Cách đây mấy bữa Facebook ồn ào lên về một bản nhạc Xuân kinh điển thịnh hành từ trước 1975 được cấp phép phổ biến ở Viêt Nam XHCN- LY RƯỢU MỪNG (Phạm Đình Chương). Ai cũng thấy, ai cũng biết, bài hát nầy vẫn vang lên trong những ngày đón xuân của người Việt trên cả thế giới, chỉ riêng trong nước là không ‘được phép’ nghe . Với thời đại thông tin như ngày nay thì “lý lịch” bản này cũng không có gì xa lạ, chính nhạc sĩ Phạm Đình Chương từng nói về sự ra đời của nó trên bản nhạc in lẻ như sau: “viết ở Sài Gòn năm 1955 để đăng trên số báo Tết của báo Đời Mới, thể theo lời yêu cầu của cụ Trần Văn Ân và nhà văn quá cố Nguyễn Đức Quỳnh, là hai người chủ trương tờ báo nầy”

Câu chuyện sẽ không có gì đặc biệt nếu như có sự cố khi xin cấp phép với nhà nước Công ty Phương Nam, đơn vị xin cấp quyền phát hành ở VN của bản nhạc, đã phải bịa ra rằng nó rra đời từ năm 1952 tức là từ thời Pháp, sau khi Pháp tái chiếm lại các nước Đông Dương. Một sự bịa đặt lịch sử!

Đọc những comment trên một số trang Facebook, nhiều bạn cho rằng phải “né luật” như vậy thì mới có thể in được và được phổ biến rộng rãi ở VN, có lợi cho cộng đồng. Mình thì thấy khác, nếu có lợi chăng là lợi cho các đơn vị khai thác bản quyền, chứ về mặt cộng đồng chẳng có cái lợi nào, thậm chí có hại nhứt là cho các thế hệ trẻ, vì nó chấp nhận sự giả dối, mà là giả dối về mặt văn hóa.

Cũng thời gian này năm ngoái, mình cũng đã Bye Bye Cẩm Ly vì nàng nầy lại lèo lái bản “Tâm sự ngày xuân” khi né tránh những từ ngữ về chiến tranh, về người lính của nguyên tác. Mình coi đó là một sự lừa dối và thiếu tôn trọng, với tác giả, với bài hát và cả khán giả.

Cẩm Ly & Tâm sự ngày xuân

 

Coi lợi tuồng cải lương “NỬA ĐỜI HƯƠNG PHẤN”

Tùng và người anh Hai Cang mồ côi tía má  từ nhỏ nên được ông bác đem về nuôi. Đến tuổi trưởng thành, Tùng được giao trông coi một cửa hàng bán đồ điện ở Saigon. Tùng gặp một kỹ nữ giang hồ tên Hương, họ yêu nhau say đắm, nhưng bác và anh Hai Cang phản đối vì chuyện tình nầy ảnh hưởng đến gia phong lễ giáo của gia đình. Tùng nhất quyết sẽ làm lễ thành hôn với Hương.

Lúc đến nhà Hương ở trọ để báo hỷ sự, Tùng gặp Định. Đó là một tay “điếm đàng”, Định dọa sẽ cho gia đình của Hương ở dưới quê biết sự thiệt về cuộc đời “son phấn” của Hương với mưu đồ giữ Hương trong tay của hắn, không cho Hương được lấy Tùng. Hương nuốt nước mắt phải chia tay với Tùng bằng một bức thơ tuyệt tình. Hương giã bộ đóng kịch cho Tùng biết cô đã lấy chồng là Định. Thấy vậy, Tùng bằng lòng đi lấy vợ theo sự dàn xếp của Hai Cang.

Hương về quê nhưng không may bà chủ nợ Hai Lung mò tới, nói cho bía má cô biết Hương là gái giang hồ làm đĩ ở Saigon, tía cô giận quá đuổi cô đi. Lên Saigon, Hương tìm đến Tùng. Đến lúc nầy, anh Hai Cang mới tiết lộ chánh anh đã năn nỉ Hương xa lánh Tùng. Hương đã âm thầm hy sanh để cho Tùng khỏi mang tội bất hiếu. Một bất ngờ khác, Diệu (vợ Tùng) chánh là em ruột của Hương (ở dưới quê, tên thiệt của Hương là The).

Đau đớn tột cùng, Hương xuống tóc đi tu, khép lại vĩnh viễn quãng đời cay đắng. Lúc nầy Tùng đến chùa xin Hương tha thứ, má và em của Hương khóc lóc, xin Hương hoàn tục, nhưng Nửa Đời Hương Phấn đối với Hương đã là dĩ vãng. Hương ngậm ngùi chôn thân trong chiếc áo nâu sòng mãi mãi…

“Số phận con đã không may
Kiếp hoa tàn héo, đọa đày truân chuyên.
Tóc xanh gởi lại mẹ hiền
Đời con khép kín cửa Thiền từ đây”

——————————————————————————————————————————————

– Một lần nữa bộ tứ các nghệ sĩ Bạch Tuyết, Lệ Thủy, Minh Vương, Diệp Lang quá xuất sắc trong mấy vai chánh, Bảo Quốc, Kiều Mai Lý cùng Thanh Tòng cùng nhau tung hứng trong mấy vai thứ khá duyên dáng, và cô Hồng Nga thì không thể nào chê được với vai bà má nghèo thương con cái và nhẫn nhịn trước tánh gia trưởng của chồng, rất “gặc” Nam Kỳ.

– Mình không có dịp được coi bản dung trước với Thanh Nga Thanh Sang, hay Út Bạch Lan Thành Được. Tuy nhiên khi nghe lại thì mình vẫn không cảm được, có thể do không có phần hình ảnh nên ấn tượng của mình không mạnh bằng với bản dựng mới, mặc dù các thế hệ trước hát rất mùi.

– Khi nhắc tới Nửa Đời Hương Phấn, dân đờn ca tài tử thường hay móc đoạn Phụng Hoàng lúc Tùng gặp lại cả hai chị em The và Diệu, mà hát lúc trà dư tửu hậu…

Dù biết em thành hôn với ai đi nữa thì chị cũng ráng về với…
… Em… Để mừng ngày em xuất giá,
Cho vui lòng ba với má,
Chị cũng nở mặt nở mày với lối xóm bà con.
Còn Dượng Ba đây là một thanh niên có học thức, lại đàng hoàng,
Chị vô cùng sung sướng thấy em có một tấm chồng đúng như lòng chị ước mong.

Hay đoạn Kim Tiền Huế lúc tía con The đang dằn co nhau khi biết The là gái giang hồ ở Saigon

Tía: Không có cha con gì hết! Người nói chuyện với tao, tuy là xác con…
The,… nhưng là hồn của con Hương. Trước kia mày là đứa con gái đàng hoàng,
Nay mày lại đi làm bại hoại gia phong, lễ giáo nhà tao.
Tao cũng tin mày đi làm ăn chơn thật. Chớ tao đâu có dè mày đem tiết trinh đi bán cho người ta để nuôi mẹ cha. Trời ơi! đồ cái quân mất dạy. Đừng léo hánh về đây, để làm nhục tổ tong!

Hương: Con cúi đầu trăm lạy ba…
Tía: Thôi, thôi, mày đừng có lạy lục mà chi. Cho tao thêm tổn thọ.
Hương ư: Xin ba nhìn nhận con là con The. Cho con ở lại, sớm hôm hầu cha mẹ…

Coi lợi tuồng cải lương “ĐỜI CÔ LỰU”

Lựu là vợ Hai Thành, một tá điền của Hội đồng Thăng. Thấy Lựu có nhan sắc nên Hội đồng muốn đoạt cô làm vợ. Hội đồng Thăng lập mưu bỏ súng lục vào nhà Hai Thành rồi báo cảnh sát đến bắt vì tội làm quốc sự. Kết cục Hai Thành bị án tù hai mươi năm, đày đi Côn Đảo biệt xứ, tài sản bị tịch biên và Lựu trở thành vợ Hội đồng Thăng.

Lúc nầy Lựu đã có mang thai với Hai Thành. Khi đứa nhỏ được sinh ra thì Hội đồng Thăng giấu nó đem cho cô nhi viện và nói dối là bị chết. Lựu sau có với Hội đồng Thăng một đứa con gái tên là Kim Anh.

Các bà con tá điền rất thương Hai Thành, trong đó có vợ chồng ông Hương. Ông Hương biết Hội đồng Thăng là chủ mưu hãm hại Hai Thành. Đứa con trai của Hai Thành mà Hội đồng Thăng đem bỏ vào cô nhi viện được ông bà Hương bí mật xin về làm con nuôi, đặt tên là Võ Minh Luân.

Sau 19 năm ở Côn Đảo, Hai Thành vượt ngục về tìm vợ con. Gặp ông bà Hương, anh biết rõ mọi chuyện. Căm giận vì cho rằng Lựu phụ bạc, anh viết một bức thư buộc Lựu trong vòng ba ngày phải lo 10 ngàn đồng để anh thu xếp việc học hành, sinh cơ lập nghiệp cho Minh Luân, còn anh sau sẽ trốn đi biệt tích. Nếu tiền không có đúng hạn thì anh sẽ có cách báo thù. Hai Thành trao thư cho Minh Luân đem tới cô Lựu.

Nhận được thư, Lựu vừa mừng, vừa lo, vừa xót xa cho chồng cho con. Lựu thấy khó xử vì không biết làm cách nào có được 10 ngàn trong ba hôm, vì cô chẳng có quyền hành gì trong nhà Hội đồng Thăng. Kim Anh thương mẹ nên đem đồ tư trang đi cầm. Để kín chuyện, Kim Anh mua đồ tư trang giả thay vào. Tới ngày hẹn, Minh Luân đến. Sau khi biết tình cảnh của mẹ và em, Minh Luân cự tuyệt, không nhận số tiền.

Chẳng ngờ chồng Kim Anh đã biết chuyện vợ cầm đồ tư trang nên nghi vợ ngoại tình. Giờ thấy vợ nói năng thân mật với Minh Luân nên anh ta cho rằng Minh Luân là tình nhân của vợ. Thấy trong túi Luân có phong thư (của Lựu gửi cho Hai Thành) anh ta đòi xem. Luân không chịu đưa nên bị anh ta rút súng bắn trúng bắp chân.

Minh Luân được đưa vào bệnh viện điều trị. Cô Lựu đến thăm con, gặp Hai Thành. Sau khi nghe Lựu giãi bày, Hai Thành hiểu được nỗi khổ tâm của vợ. Đúng lúc đó, Hội đồng Thăng cũng tới, nhận ra Hai Thành nên sai tài xế đi báo cảnh sát. Minh Luân căm thù, xông tới đâm chết Hội đồng Thăng.

Vở cải lương kết thúc bằng bi kịch, Kim Anh phát điên. Cô Lựu cho rằng mình là nguyên do mọi tội lỗi nên nguyện cắt tóc đi tu để sám hối.

—————————–

– Tuồng này được sọan giả Trần Hữu Trang sọan năm 1936, một trong những tuồng tiêu biểu của Cải lương Nam Kỳ trước 1945. Vở cải lương kể về số phận đau khổ và éo le của cô Lựu dưới xã hội phong kiến, thực dân mà cô là một nạn nhân của xã hội lúc bấy giờ, cũng như nỗi khổ của người nông dân ở các vùng quê Nam Kỳ nói chung.

– Đối với mình thì khoái bản dựng của đoàn Trần Hữu Trang như trong clip bên trên. Đặc biệt thích cách diễn của bộ tứ Lệ Thủy, Bạch Tuyết, Thanh Sang, Diệp Lang. Ngoài ra còn một dàn bao thượng thừa với Minh Vương, Bảo Quốc, Ngọc Giàu và đặc biệt cô Hồng Nga trong vai bà Hai Hương. Cách diễn quá Nam Kỳ của bà Hai Hương Hồng Nga không lẫn với ai được mặc dù chỉ xuất hiện trong 1 màn. Trước Hồng Nga, có cô Ngọc Giàu cũng từng diễn qua vai nầy tuy nhiên cô không toát lên vẻ khắc khổ, tánh khảng khái của dân Nam Kỳ như cách diễn của cô Hồng Nga. Bù lợi, tuồng nầy cô Ngọc Giàu cũng rất thành công với Cô Bảy Cán Vá mà tới giờ chưa ai thay thế được.

– Từ khi biết coi cải lương và biết tới cô Hồng Nga thì mình chưa bao giờ thôi thích cô đóng những vai đào mụ. Mình luôn muốn xem lại và xem mãi mãi cô Hồng Nga trong vai mẹ của Hương trong Nửa đời hương phấn, vai mẹ Điệp trong Lan và Điệp, vai bà Hai Hương trong Đời Cô Lựu và vai mẹ Diệu trong Lá Sầu Riêng… đó là những bà mẹ Nam Kỳ, suốt đời sống cho chồng con, bao nhiêu nước mắt khóc cho thân phận bọt bèo của những đứa con hay bao nhiêu đắng cay đã nuốt trọn cho hạnh phúc của chồng con….

– Bên cạnh đào mụ, thì cô cũng rất duyên dáng trong các vai hài hoặc pha hài. Có thể đó là vì kế mưu sinh trong giai đọan cải lương khủng hoảng nhưng không phải ai cũng duyên dáng được như cô. Ngoài ra cũng nên nói đến những vai đào độc mà lời đay nghiến rành rạch trong từng câu nói, nhìn con mắt thôi đã phát sợ 🙁

– Cũng như những diễn viên gạo cội khác của sân khấu cải lương Nam Kỳ, cô cũng lận đận với cái mấy cái danh hiệu ảo …

Nói chung thì chưa bao giờ thôi thích cô Hồng Nga!

Út Bạch Lan & Hoàng Thùy Linh

Gần đây rùm beng cái vụ xét tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú, Nghệ sĩ nhân dân, trong đó có dính tới người nghệ sĩ mà mình rất yêu thích là Nghệ sĩ Út Bạch Lan. Cả đời Cô gắn bó với đờn ca, dù thời gian đã bào mòn sức khỏe ít nhiều nhưng Cô vẫn miệt mài dưới ánh đèn sân khấu, nhả những sợi tơ cuối cùng của mình cho nghiệp tổ, ước nguyện được đặc cách xét tặng danh hiệu NSND cho những ngày còn lại của đời nghệ sĩ của Cô trở nên ngày một xa hơn.

Cô Út an tâm, có hay không có những danh hiệu ảo đó, thì trong lòng các thế hệ Nam Kỳ, các Út Trà Ôn, Út Bạch Lan, Văn Vĩ, Viễn Châu, Thanh Nga, Minh Vương, Lệ Thủy, Bạch Tuyết, Hồng Nga, Ngọc Giàu, Diệu Hiền, Thành Được… vẫn mãi là tượng đài nghệ thuật, vẫn len lỏi vào tâm hồn trí nhớ. Đọc qua mấy bài báo làm mình rất vui khi Cô có ý không so bì về việc được hay không được phong tặng danh hiệu, thay đó Cô lấy làm trân quý những danh hiệu mà khán giả mộ điệu trao tặng, trong đó có danh hiệu “sầu nữ”. Cô biết không có những nghệ sỹ mang tiếng NSND ngoài kia, thử hỏi coi họ được bao nhiêu công chúng biết đến tiếng tăm ngoài tên tuổi nằm trong bảng hiệu của nhà nước, được đọc điếu văn hay mấy dãy lụa đen treo trên quan tài khi xuôi tay nhắm mắt?

Với kiểu làm như hiện nay của họ thì khả năng vài năm nữa Hoàng Thùy Linh cũng có thể được phong NSND, mình thật sự không muốn Cô Út đứng cùng danh sách đó.

1ut12_647d6

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

—————————————————————————————-

Mời mọi người nghe Cô Út hát 2 bản Nam Xuân- Nam Ai. Trong lời ca này có rất nhiều cổ ngữ mà người Nam Kỳ như mình cũng không hiểu hết được.

NAM XUÂN – NAM AI

Tô Huệ- Chức Cẩm Hồ Văn

1. Đây, đó đành- kết nguyền bạn lang
2. Nguyện, trăm năm- gắn chặt bền keo sơn
3. Duyên sắc cầm- đôi ta đã cạn lời vàng
4. Cho trọn nguyền, Chức nữ Ngưu lang
5. Noi Tư Mã, xưa, khúc Phụng cầu hoàng
6. Cho phỉ nguyền, quân tử tạo đoan
7. Như xuân huê cười, ong bướm nhộn nhàng
8. Đôi lứa mình, ví tựa Thôi Trương, Sắc mới ngoan

9. Xin nắm, giữ, câu tam tùng
10. Gái thuyền quyên, sánh với trang anh hùng
11. An giấc hòe, màn loan trướng trung
12. Tương tư mấy lời tựa như khúc đàn năm cung
13. Duyên liễu yếu, má núng má phấn
14. Đóa đào yêu, nào khác huê dung
15. Giai ngẫu tự thiên thành, lương duyên do túc đế
16. Thiếp nguyện ghi lòng, trọn niềm thủy chung
17. Đôi ta thề từ hồi ban sơ
18. Gió đưa duyên, ấy cũng nhờ ông tơ
19. Nguyệt lão xe dây tơ hồng, xui thành nợ duyên
20. Hiệp một nhà, liễu yếu đào thơ

Thể điệu: NGŨ ĐIỂM – BÀI TẠ

NGŨ ĐIỂM MAI – TỌA NGỌC LẦU thường được gọi là NGŨ ĐIỂM BÀI TẠ, là hai bản vắn rất phổ biến trong truyền thống nhạc tài tử cải lương và thuờng đuợc hòa đờn chung với nhau.

Tên Ngũ Điểm Mai là từ Hán Việt diễn tả hoa mai năm cánh mang đến niềm vui rôn ràng tươi mát cho thiên nhiên, con người. Tọa Ngọc Lầu cũng là từ Hán Việt có nghĩa là ngồi trên lầu ngọc. Đây là hình ảnh thường thấy trong văn chương, hội họa và âm nhạc Á Đông. Bài nhạc diễn tả hình ảnh con người phong nhã thanh tao, tâm hồn thiền định, ngồi trên lầu ngọc thưởng ngoạn cảnh vật thiên nhiên tuyệt vời.

Thể điệu Ngũ Điểm – Bài Tạ có âm thanh rộn ràng tươi vui. Bài nhạc được viết theo hệ thống ngũ cung Hơi Quảng và hay đuợc xài để dạy mấy bạn mới học đờn ca tài tử căn bản, đây cũng là bản mình hay tập lúc mới biết đờn 😀

Trích Tây Thi

Trích Mộc Quế Anh

Còn đây là một bản đúng điệu tài tử, lời lẽ châm biếm rất vui 😀

 

Dân ca Nam Kỳ: LÝ CHIM QUYÊN

Ai sinh ra lớn lên ở Nam Kỳ chắc cũng không ít lần nghe qua câu ca dao nổi tiếng gắn liền với bản dân ca Lý Chim Quyên

“Chim quyên ăn trái nhãn lồng,

le the quen chậu vợ chồng quen hơi”

Về sau sọan giả Diệp Vàm Cỏ có sọan lại lời mới cho bản nầy cũng khá hay và Nam Kỳ

Chim quyên quầy ăn trái quay
Nhãn nhãn lồng, nhãn nhãn lồng
Ơi con bạn mình ơi, ơi con bạn mình ơi

Lia thia quầy quen chậu quay
Vợ vợ chồng, vợ vợ chồng
Ơi con bạn quèn ơi, ơi con bạn quèn ơi

Chim ơi chim xa rừng thì chim thương núi nhớ non
Người cách xa cội nguồn này người cách xa cội nguồn
Ôi đâu còn có gì buồn hơn ôi đâu còn có gì buồn hơn

Chim quyên quầy lúc chậu quay
Bỗng bỗng quỳ, bỗng bỗng quỳ
Ơi con bạn mình ơi ơi con bạn mình ơi

Ba năm quày đợi được quay
Huống huống gì, huống huống gì
Ơi con bạn một năm, ơi con bạn một năm

Chim ơi chim xa rừng thì chim thương núi nhớ non
Người cách xa cội nguồn này người cách xa cội nguồn
Ôi đâu còn có gì buồn hơn ôi đâu còn có gì buồn hơn

Chim quyên quầy xuống suối quay
Thả thả mồi, thả thả mồi
Ơi con bạn mình ơi, ơi con bạn mình ơi

Thương em quày lao khổ quay
Ảnh ảnh ngồi, ảnh ảnh ngồi
Ơi con bạn chẳng yên, ơi con bạn chẳng yên

Tân cố Lý chim quyên

Mình nhớ hồi còn sinh viên có ở chung một anh bạn người miền Bắc có kể mình nghe về loại nhãn lồng ở miền đó khi  phải dùng lồng che lại để hạn chế chim chóc tới phá phách. Nên loại nhãn lồng trong bản nầy chắc chắn phải là loại nhãn lồng ở miền Nam. Có lẽ đứa trẻ miền quê nào ở miền Nam cũng đã từng biết qua trái nầy, nó mọc hoang ở những bụi cây, bờ rào… Hồi nhỏ, đi đâu gặp trái chùm bao mình thường hái bỏ túi đem về chơi, cho mấy đứa em, hoặc bỏ vô miệng… ăn. Không ngon lắm, nhưng ngọt ngọt, ăn cũng vui. Chứ nếu mà ăn trái nhãn (đang ở trong lồng) của miền Bắc thì sẽ bị người ta ….. vác cây ra đập