THỂ ĐIỆU: XANG XỪ LÍU – KHỐC HOÀNG THIÊN

Xang Xừ Líu – Khốc Hoàng Thiên là hai thể điệu được xử dụng khá phổ biến trong âm nhạc cải lương. Bài nầy thuộc về nhạc dân gian Trung Quốc đã thâm nhập nước ta từ lâu và được dân tộc hóa cả đờn lẫn hát.

Tính chất êm ái ,nhẹ nhàng khoan thai, tươi sáng , quyến rũ. Giai điệu rất đẹp , thích ứng với mọi giọng ca.

Xang Xừ Líu – Trích “Anh hùng Lương Sơn Bạc”

Khốc Hoàng Thiên- Trích “Bao Công Phiên Phiên trả thù”

Khốc Hoàng Thiên- Trích “Tây Thi”

PL: Nhị vị cô nương hãy đứng lên… đi, không có gì lầm lỗi, chính tôi mới cúi đầu sám hối. Dám xem thường nhi nữ Trữ La, trọn lòng trung yêu nước thương nhà.

TT: Tuy ở thôn nghèo nhưng đã hiểu qua, Ngô quốc xâm loàn gây cảnh xót xa. Tủi phận quần thoa bất tài kém lực, nghẹn tức khi nhìn sông núi tan thương.

ĐT: Biết phải làm sao chung lối chung đường? Nam nữ tận tường thọ thọ bất thân. Nắng đã lên cao nhà chẳng được gần, tạ từ lui về xin lỗi đại phu. ./

 

Ờ, THÌ THÍCH CẢI LƯƠNG

Nói ra thiệt mắc cỡ chứ trước đây tôi rất ngại khi nói với người khác là mình khoái nghe/coi cải lương vì ngại mọi người nghĩ mình nhà quê. Nhưng về sau nầy, càng lớn lên thì tôi ngộ ra là chẳng có gì phải ngại chuyện đó, mình căn bản xuất thân nhà quê thì mê cải lương có gì sai, quê hay không quê thì có gì quan trọng? Phải tự hào về chuyện đó nữa là khác.

Tôi sanh ra lớn lên ở Nam kỳ, không phải con nhà nòi cải lương hay đờn ca tài tử, nhưng nếu sâu chuỗi lại thì đúng là tuổi thơ tôi gắn liền với bộ môn nghệ thuật nầy mà ông bà nội là người có ảnh hưởng tôi nhứt.

Nếu nhớ không sai thì tôi biết tới văn hóa đờn ca từ những lần đi cúng miễu gần nhà, làm gì làm cũng phải đòi bằng được ông bà nội dẫn đi coi hát cúng miễu tới vãn mới chịu. Trong trí nhớ tôi thì buổi hát được bày ra trước miễu, dưới gốc cây bàng lớn ngay mé rạch gần ngã ba sông Soài Rạp. Hồi đó tôi được ông nội cắt nghĩa sở dĩ dân mình có cúng có hát đình là để cầu Quốc thái dân an, cầu mong bình an vô sự , cũng là dịp để hậu bối tưởng nhớ tiền nhơn, cầu siêu cho anh hùng tử sĩ, răng dạy con cháu đạo nghĩa làm người qua các tuồng tích. Những lần đi coi hát đó đối với tôi thiệt rất thích thú, tôi chăm chú nghe ca coi diễn mặc dù ở tuổi đó tôi không thể hiểu được các nghệ sĩ đang muốn truyền đạt thông điệp gì.

Hồi những năm 1990 thì thời gian cực thịnh của các Tuồng cải lương được quay hình rồi phát trên mấy đài truyền hình ở Nam Kỳ. Tôi nhớ thì đài Long An chuyên trị phim bộ Hồng Kong, Vũng Tàu thì chuyên trị quảng cáo thuốc “Song long bổ tinh đơn, Song long tâm não linh, Song Long tiêu ban lộ”, còn cải lương thì phải coi đài Vĩnh Long hoặc Tiền Giang. Khỏi phải nói, nhà ông bà nội nghèo cỡ nào cũng ráng mua cho bằng được cái truyền hình đen trắng Panasonic để coi cải lương, haha. Khoái nhứt là chừng tầm 8h tối, cả xóm bu lại quanh cái truyền hình mà coi lấy coi để; lâu lâu gió làm quay ăng-ten nên tín hiệu không rõ, phải cử một đứa chạy ra quay ăng-ten, đứa ở trong nhìn truyền hình để coi còn bị “hột” hay không. Sống trong không gian đó nên với tôi tuồng tích ra sao, nghệ sĩ tên gì hát tuồng nào…. là chuyện dễ ợt.

Thời đó tôi không phân biệt được đờn ca tài tử, cải lương, cải lương Hồ Quảng… chỉ đơn giản là nghe cải lương cho tới khi học cấp ba. Lúc nầy tôi được tiếp xúc nhiều hơn sách báo và đặc biệt là internet thứ mà cho tôi nhiều hiểu biết hơn về bộ môn nầy. Nếu ngày xưa chỉ là thích nghe hát mà không để ý tới ý nghĩa của tuồng tích hoặc thể điệu thì giờ tôi mới thấy là mỗi tuồng đều hàm chứa một thông điệp nào đó về đạo đức xã hội, gia đình và nhứt là tự tình dân tộc; mỗi tuồng dù éo le tới mấy thì cũng có cái kết tốt đẹp hoặc it ra cũng là cái kết mở, và giá trị đạo đức không lỗi thời chút nào hết; tôi phân biệt được các thể điệu và cách xử lý âm nhạc ngũ cung trong đờn ca tài tử khác với cải lương chổ nào và hơn hết tôi ý thức được mình thiệt yêu thích và trân trọng nó. Gần đây tôi bỏ nhiều thời gian hơn để tìm hiểu và học hỏi, đơn giản vì tôi quý mà không đặt ra cho mình mục đích gì to tát hết, chắc chắn bây giờ hỏi tôi là có thích cải lương không, tôi không ngần ngại nói “CÓ”.

Thỉnh thoảng tôi có nói chuyện với bạn bè về đờn ca tài tử và cải lương thì hầu hết bạn bè tôi có cái nhìn không thiện cảm. Đa số mọi người cho là nó quá bi lụy khi dìm con người vào trong nước mắt và bi thương; hình tượng nhân vật quá phóng đại và xa rời thực tế. Thiệt ra không hẳn vậy, nghệ thuật nầy hết sức đa dạng, có những tuồng bi thương về thân phận con người nhưng cũng có những tuồng mang vẻ vui tươi đầy hy vọng hoặc đầy hào khí chiến đấu, mang hồn thiêng sông núi trong từng câu hát điệu đờn. Hơn nữa thì đây là một môn nghệ thuật thì việc kịch tính hóa và cường điệu hóa là chuyện hiển nhiên; nhưng nếu so với chèo, cải lương lại gần gũi hơn khi những gì nó truyền tải lại là những chuyện hết sức bình dị và gần gũi với cách ăn nếp ở của người Nam Kỳ. Những lần như vậy tôi thường không tranh cãi nhiều vì tôi hiểu là tình yêu xuất phát từ tâm và tôi không thể ép ai đó yêu thích một cái gì đó như mình.

Giờ được mấy người trẻ tuổi ngồi coi cải lương trọn tuồng hoặc dám ngồi giữa Starbucks mà nói là “TAO KHOÁI COI CẢI LƯƠNG” ?

THỂ ĐIỆU: SƯƠNG CHIỀU- TÚ ANH

Hôm bữa không biết cách nào mà chị mình coi được mấy bản đờn trên blog và rồi hỏi mình sao toàn đờn mấy bản vui, “nhoi như dòi”? Hehe. Thiệt ra khi học đờn tài tử, những bài với âm điệu vui, tiết tấu nhanh sẽ dễ đờn và phù hợp với người mới làm quen như mình hơn. Những bài buồn, nhấn nhá nhiều để nghe cho mùi mẫn thì cần nhiều kinh nghiệm và rành đờn hơn và mình cũng chưa đủ trình độ.

Hôm nay về sớm, tập bản SƯƠNG CHIỀU qua TÚ ANH nầy, bản nầy với âm điệu vừa phải, chưa quá nhanh cũng không quá trầm buồn để mọi người coi sao 🙂

“Sương Chiều” là tên một thể điệu được xử dụng khá phổ biến trong phong trào đờn ca tài tử và trên sân khấu cải lương. Bản “Suơng Chiều” thuờng được kết hợp với bản “Tú Anh” thành một bản hòa tấu. Với giai điệu rõ ràng, mang tính vui tươi hồn nhiên nên trong các kịch bản sân khấu cải lương, soạn giả thường xử dụng điệu nầy để diễn tả những cảm xúc nhẹ nhàng, trong đồi thoại nam nữ, trong những tình huống trữ tình giao duyên.

Theo ghi chép thì hai bản này do sọan giả Mộng Vân sáng tác những năm 1940 cho những tuồng cải luơng kiếm hiệp vốn rất ăn khách ở thời điểm đó.

Mình khóai hai cô chú này hát ghê, tự nhiên như không, rất đúng tinh thần đờn ca tài tử :). Đọan này trích trong tuồng “Đêm lạnh chùa hoang”

THỂ ĐIỆU: LIỄU THUẬN NƯƠNG

Liễu Thuận Nương là tên một bản nhạc, chưa xác định được tác giả, được xếp vào bộ Ngũ Điểm, có hơi Quảng. Là một bản nhạc có giai điệu đẹp, Liễu Thuận Nương được xử dụng nhiều trong các cuộc đờn ca tài tủ trong gia đình, nhóm bạn, cũng như trong các lò luyện đờn ca tài tử, cải lương. Sân khấu cải lương cũng có nhiều kịch bản sử dụng điệu Liễu Thuận Nương trong những tình huống vui tươi.

THỂ ĐIỆU: TRUNG THU

Tương tự như điệu Cao Phi, thể điệu Trung Thu mang hơi Quảng với âm điệu nhanh, dồn dập nên phù hợp với bối cảnh vui, đối đáp bốp chát.

 

Trước khi văn nghệ mở màn
Tôi xin ca bản Trung Thu
Mẫu Đơn, Thính Ba-Bá Hoa, Ngũ Điểm-Bài Tạ qua bài Giao Duyên
Ca bản Văn Thiên Tường, ca bản ca Xuân Tình
Ca cho rồi một lớp Xàng Xê, ca hết bài Khóc Hoàng Thiên
Tám câu Nam Ai, Nam Xuân
Ca lại cái bài Liêu Giang
Ca qua Cao Phi, Tấn Phong
Ca lại cái bài Thu Phong
Ca cho hết bản Nặng Tình Xưa
Xang Xừ Líu qua Mộng Lầu Thu
Lý Con Sáo, Mẫu Tầm Tử qua Ngựa Ô Nam
Bài ca Tìm Hoa Kiều Nương
Ca bản Phong Ba Đình
Ca bản ca Xuân Tình qua Lạc Xuân Hoa.

THỂ ĐIỆU: CAO PHI

Trong đờn ca tài tử cải lương Nam Kỳ thì ngoài hệ thống 20 các bài bản tổ (cho 4 điệu Bắc, Hạ, Nam, Oán và 4 hơi Xuân, Ai, Đảo, Ngự), thì còn có thêm một hệ thống các bài bản vắn (ngắn). Những bài bản nầy ta thấy dấu vết của sự giao thoa văn hoá thể hiện rõ rệt trong trường phái Cải lương Hồ Quảng (hơi Quảng).

Cao Phi là một thể điệu mang hơi Quảng khá phổ biến trong cải lương Nam Kỳ. Do tiết tấu nhanh, phấn khởi nên bản nầy thường được xử dụng trong những tình huống vui tươi hoặc cao trào.

Dưới đây là bản mình đờn, tuy còn vụng về nhưng nghe cũng ra được làn điệu. Kèm theo là một đoạn cải lương có xài bản nầy.