Giỗ ông Định ở Gò Công

Cách đây mấy bữa là giỗ ông Trương Định, đi dọc Gò Công thỉnh thoảng sẽ thấy nhà dân bên đường đem hình ông ra trước nhà lập bàn hương án với nhang đèn, trái cây rất nghiêm chỉnh. Không biết có can thiệp của chánh quyền không, nhưng âu đó cũng là tập quán tốt đẹp để giáo dục lịch sử.

Lối năm 1864, bị quân Pháp bao vây đánh úp ở Gia Thuận. Thất thủ, Trương Định rút gươm tuẩn tiết ở Ao Dinh hồi rạng sáng ngày 20 tháng 8

Nam Kỳ ký ức: hàng ba

“Đêm đêm ra đứng hàng ba. Trông về quê mẹ lệ sa buồn buồn…”

“Hàng ba” là từ chỉ xuất hiện  ở Nam kỳ và có thể gọi là phương ngữ nam kỳ. Nếu như ở miền Bắc hay Trung, người ta xài từ “thềm nhà” hay “hành lang”, thì người Nam kỳ xử dụng từ nầy, nghe loáng thoáng đâu đó vẫn thân thương và gần gũi hơn.

Kiểu nhà thông dụng nhứt ở đây là kiểu nhà 3 gian 2 cháy, kiểu chữ đinh. Hàng ba chiều ngang bằng với chiều ngang ngôi nhà, nhưng dài chỉ từ một mét rưỡi đến hai mét (1,5 – 2m), được rào bởi xi măng và những bông gió thâm thấp, trên là những miếng gạch hai tấc tạo thành cái bệ dài. Chủ ý hàng ba không phải ngăn kẻ trộm, mà là bệ ngồi cho bạn bè chiều chiều nhảy phóc lên hàng ba tán dóc, chuyện trò…

Với đám nhóc chúng tôi, hàng ba là một sân chơi đầy thú vị những ngày hè hoặc sau giờ học. Hàng ba là nơi con gái chơi nhảy dây, lò cò, tạt lon; tụi con trai thì chơi tạt lon, bắn kè; là chổ mẹ ngồi lựa thóc hay chảy tóc cho con gái mỗi bữa trưa hè.

Như trong đoạn cải lương trong tuồng Nửa đời hương phấn, đoạn chị em The với Diệu tâm sự cùng mẹ ở chùa, cảnh bà mẹ mô tả cảnh gia đình quấn quít ngoài hàng ba mà muốn khóc.

 

Quốc lộ 50: Đọc sử bằng cách đi đường (6)

Lộ Dương ở Gò Công

Chúng ta bắt đầu từ bên kia bắc Mỹ Lợi -Cầu Nổi, con lộ “ngựa trạm” xưa –rồi liên tỉnh lộ 5-nay là quốc lộ 50 xuất phát từ địa đầu tỉnh Gò Công. Người Gò Công xưa và nay lúc nào cũng hướng về Sài Gòn hơn Mỹ Tho, mặc dầu Mỹ Tho gần Gò Công hơn Sài Gòn, thành ra ai cũng qua bắc Cầu Nổi, bước qua cái lộ này hết.

Quốc lô 50 xưa khúc từ Cầu Nổi băng qua chợ Mỹ Lợi, đi ngang Xóm Tre của làng Bình Thạnh Đông xưa rồi qua cầu Sơn Qui, gò Sơn Qui (Tân Niên Trung) của nhà họ Phạm chạy về tỉnh lị Gò Công xưa.

Hai bên lộ trồng toàn là cây dương tức cây phi lao lâu năm, cây bự, tán rông và cao, lá xanh nhuyễn nhừ nhọn hoắc như kim may. Dân Gò Công đặt tên con lộ này là ‘Lộ Cây Dương”, lâu ngày gọi tắt là Lộ Dương

Lộ Dương hồi xưa rất thưa thớt người đi lại, nhà cửa hai bên không có nên vắng ngắc. Gò Công là tỉnh đò giang cách trở, “hốc bà tó” nên du khách ít ghé thăm. Trên đường thỉnh thoảng có chiếc xe ngựa. Hồi bà nội còn sống, bà hay kể hồi đó từ nhà mình đi vô thị tứ Gò Công hơn 15 cây số, hai bên đường thênh thênh ruộng lúa, khúc thì mịt mù bụi bờ nên thú dữ vô số. Khúc gần ngã Ba Bình Xuân có một cái mả bên phải vệ đường, nghe nói đâu là mả cũng một ông chuyên giết hổ trong vùng, sau dân thờ tự và đấp mã cúng cho tới ngày nay.

Nhà kiểu Gò Công- ngã Ba Bình Xuân

Ông Hồ Biểu Chánh miêu tả :”Trên lộ Cây Dương xe ngựa đưa người núc ních chạy chậm rì, tiếng lục lạc nhỏ khua xa xa nghe như tiếng nhái”

“Thiệt như vậy, giồng Sơn Quy đầu trong vô tới mé sông Gò Công, còn đầu ngoài đụng con đường quan lộ Gò Công lên Chợ Lớn. Hiện giờ du khách đến đó thì thấy dân cư thưa thớt, nhà cửa xơ rơ…” (Hồ Biểu Chánh)

Đường vô Tân Niên Trung

Lộ Dương chạy thẳng vô khu trung tâm Gò Công xưa. Tại đây có sân banh, dinh chánh tham biện, trường học, tòa án, khu này có mấy cái ao trữ nước mưa cho các công sở gọi là Ao Thiếc.

Dinh chánh tham biện Gò Công là tòa nhà hình bánh ú kiểu Tây, một tầng lầu được xây trong khuôn viên khá rộng

Năm 1864, Đô đốc De la Grandière thiết lập các Sở tham biện (hạt thanh tra or tiểu khu) ở Nam Kỳ do quan người Pháp coi sóc. Từ năm 1865, Nam Kỳ có các tham biện sau : Sài Gòn, Chợ Lớn, Cần Guộc, Tây Ninh, Gò Công, Tân An, Mỹ Tho, Cai Lậy, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Long Thành, Bảo Chánh, Bà Rịa.

Như vậy hạt tham biện Gò Công đã có từ 1865. Đứng đầu hạt tham biện là quan chánh tham biện người Pháp và khu vực của chánh tham biện được gọi là sở tham biện. Năm 1874 thì gọi là ‘địa hạt”, sau 1900 thì gọi là tỉnh, quan đứng đầu là ‘chủ tỉnh”

Dinh tỉnh trưởng Gò Công – đọc thêm ở đây 

Gò Công là tỉnh nhỏ xíu. Theo tài liệu “Annuaire de la Cochinchine Française, 1887”thì năm 1887 Gò Công có 64.170 người An Nam, 13 người Pháp, 588 người Tàu và 14 người Ấn Độ. Dinh chánh tham biện nằm quay mặt tiền ra đoạn đầu của lộ Hộ Mưu sau 1954 đặt là đường Thái Lập Thành. Mặt tiền dinh đâu mặt với trường trung học công lập Gò Công(trường Trương Định) bên phải của dinh là Lộ Dương và sân banh Gò Công.

Xa xa phía sau trái của dinh là cái tháp chuông cao vút của nhà thờ Thánh Tâm xây năm 1940. Chạy từ cầu Sơn Qui theo Lộ Dương quẹo đường Gia Long, vô Tổng Tứ qua cầu sắt Long Chánh về Mỹ Tho.

Phong Việt

 

Quốc lộ 50: Đọc sử bằng cách đi đường (4)

Qua khỏi chợ Cần Đước chạy thẳng chừng 4 cây số là tới Cầu Nổi. Còn nếu ngay chân cầu chạy thẳng luôn thì sẽ ra bến phà cũ, bây giờ thành đường cụt nên cũng hoang tàn lắm.

Mỹ Lợi

Mỹ Lợi ngày nay là tên một cái cầu bê tông, trước là tên một cái bắc qua sông Vàm Cỏ là ranh giới hai tỉnh Long An và Tiền Giang,vị trí phía bắc Gò Công và phía nam Cần Đước.

Bắc Mỹ Lợi xưa (Zing)

Cầu Mỹ Lợi nay

Xưa nay dân hai bên gọi là đò Bao Ngược, rồi hồi thập niên 60 người Mỹ thả trái nổi làm cầu bắc nên dân gọi là bắc Cầu Nổi, Cầu Nổi thành một địa danh vùng của Cần Đước, trên xe đò xe bus đều ghi Cầu Nổi là cái vùng hai bên cái bắc –mặc dù tên chánh thức là phà Mỹ Lợi. Nghe ba má kể hồi trước 75, ngay bến phà cũ có gắn cái chữ MỸ LỢI bằng xi măng ngay cổng vô bên bắc, sau nầy “mấy ổng” tháo xuống, dẹp luôn cái tên ấp Mỹ Lợi, đổi thành Trí Đồ. Mà cũng không ai biết và hiểu Trí Đồ có nghĩa gì với xứ nầy.

Mỹ Lợi xuất xứ ở đâu?

Hên là ông Hồ Biểu Chánh có táy máy tay chưn khi viết tiểu thuyết về địa phương của mình. Trong «Cay đắng mùi đời» có đoạn : «Ai đi đường Chợ Lớn xuống Gò Công, hễ qua đò Bao Ngược rồi lên xe chạy ra khỏi chợ Mỹ Lợi, tới khúc quanh, thì sẽ thấy bên phía tay trái, cách lộ chừng ít trăm thước, có một xóm đông, kêu là Xóm Tre, nhà ở chật, cái trở cửa lên, cái day cửa xuống, tre xanh kịt bao trùm kín mít, ngoài vuông tre thì ruộng bằng trang sấp liền từ giây»

Và một đoạn nữa :

“Năm ngoái qua chở thằng con qua lên Sài Gòn uống thuốc, đi tới Nước Xoáy qua có gặp một đứa nhỏ chừng mười ba, mười bốn tuổi đờn ca giỏi quá. Qua có hỏi nó, nó nói tên Ðược, gốc ở chợ Mỹ Lợi thuộc hạt Gò Công, chắc là nó đó chớ gì?”

 

 

Ngôi nhà kiểu Gò Công

Như vậy Mỹ Lợi là một cái chợ nằm bên mé Gò Công và từ 1923 chợ Mỹ Lợi vẫn còn. Năm nầy đã có bắc Mỹ Lợi nhưng dân gian vẫn quen gọi là đò Bao Ngược.

Gò Công là tỉnh nhỏ xíu khoảng 600 cây số vuông, là một bán đảo, bị sông và biển bao bọc. Xưa muốn về thành Gia Định thì chỉ có đi đò, đi ghe.

Bằng tài công đò Mỹ Lợi

Bằng khen cứu người của thủy thủ đò Mỹ Lợi

Vua Tự Đức dính quê ngoại Gò Công nên là người cho đắp con đường bộ chạy ngựa từ Gia Định xuống giồng Sơn Quy để liên lạc với quê ngoại mà nay là quốc lộ 50, trước là liên tỉnh lộ 15, trước nữa kêu là lộ Hàng Dương vì hai bên đường có trồng cây dương bự và mát lắm.

Pháp qua đã mở rộng, trải đá dăm con đường ngựa trạm đó nối Gò Công với Chợ Lớ, tất nhiên đều phải đụng con sông, cái đò Bao Ngược và sau nầy là bắc Mỹ Lợi-Cầu Nổi. Bắc Mỹ Lợi-Cầu Nổi là cái bắc “địa đầu” và quan trọng nhứt của tỉnh Gò Công xưa nên Pháp cho xà lan chạy máy ,trong khi bắc Chợ Gạo thì dùng tay kéo. Dân Gò Công cần cái bắc nầy nhiều hơn dân Cần Đước nên địa danh Mỹ Lợi lấy từ mé Gò Công chăng?

Năm 1889, thời Pháp thuộc, thái hậu Từ Dũ sai vua Thành Thái về lăng mộ họ Phạm ở Gò Công bái tổ tiên, vua Thành Thái theo đường ngựa trạm từ Chợ Lớn về đến bờ bắc bến đò Mỹ Lợi, qua đò sang Gò Công, tháp tùng có quan toàn quyền, chánh tham biện Gò Công và các quan viên trong tỉnh. Hương chức và người dân hai bên đường bày hương án đón tiếp.

Mỹ Lợi thẳng đến Gò Công
Tam quan tám cửa, Khánh môn nối liền
Lọng tán cờ biển hoan nghênh
Hội tề khăn áo rộng xanh đứng chờ

Năm 1942 vua Bảo Đại đích thân lái xe hơi đi theo con đường quốc lộ 50 cùng Hoàng hậu Nam Phương về Gò Công bái tổ và cũng dừng chưn –bước lên bắc Mỹ Lợi qua xứ Gò .

Gò Công cảnh cũ: Về Gò Công ăn bánh giá

Nếu như nói tới món ăn đặc trưng của Mỹ Tho là hủ tiếu, thì Gò Công nổi tiếng nhứt chắc có lẽ là Bánh Giá. Bánh giá không cầu kỳ chế biến, cách ăn cũng bình dân, mà hạp nhứt là để ăn sáng, mấy cha nhậu cũng có thể lai rai với mấy xị đế, nghe nói ngon bá chấy 🙂 . Bánh mang vị béo của bột gạo, vị ngọt của tôm, giá sống, mùi thơm của đậu phộng ăn cùng nước mắm ớt tỏi thiệt khoái khẩu.

Bánh giá ở Gò Công chổ nào cũng có, nhưng ngon và nổi tiếng hơn thảy là bánh giá Chợ Giồng. Bây giờ không biết còn không, chứ hồi đó, mỗi lần đi xe đò từ Mỹ Tho về Gò Công, cứ gần tới ngã Ba Vĩnh Bình, nhìn mé tay mặt có một cái sạp nhỏ, có lò củi đốt khói nghi ngút, chảo gang mỡ sôi sùng sục với đám bánh giá. Gió thổi cuốn theo mùi bánh thì tụi con nít như mình đứa nào mà không đòi mẹ mua một cái cho bằng được?

Bánh giá bán trên xe buýt ở Gò Công

Ngày xưa người bán chiên bánh bằng chảo gang, vá gang, lửa củi; có lẽ nhờ vậy mà độ giòn của bánh ngon hơn ngày nay. Khi bột gạo được cho vào vá, người ta cho thim thịt heo, gan heo xắt miếng, núm rơm, núm mèo vô, rồi phủ lên một lớp giá sống, sau đó phủ tiếp một lớp bột gạo rồi bỏ mấy con tôm bạc đất lên mặt bánh trước khi cho vào chảo mỡ heo để chiên. Gói bánh mà đúng điệu thì phải gói bằng lá chuối khô.

10580088_10152645888494378_1037962613964178638_n

Hồi nhỏ, mỗi lần mẹ đi chợ về là chỉ mong sao được mua cho cái bánh giá vàng khè giòn rụm, rồi nhét lấy nhét để vô miệng, mỡ tươm ra đầy miệng cho thỏa thích. Lớn hơn chút thì có dịp được đi chợ Gò Công, có khi đứng cả nửa tiếng đồng hồ coi mấy bà cô chiên bánh, rồi hít ngửi khói bánh thơm cho đã thèm rồi mới mua. Cầm cái bánh nóng hổi mới vớt khỏi nồi, hít hà cho đã rồi cắn cái rụp- bà nội ơi, nó ngon!!!!. Thiệt tình viết mấy dòng nầy mà… chảy nước miếng.

Bánh giá ngay ngã ba Vĩnh Bình

Về tên gọi,  do cái vá được xử dụng để định hình cho bánh, người miền Nam đọc trại “vá” thành “giá” từ đó trở thành tên gọi của bánh là bánh giá. Cũng có giả thuyết nói là tên bánh giá xuất phát từ nguyên liệu làm bánh gồm giá sống, trứng gà, bột năng, bột gạo, gan heo, thịt, tôm, đậu phộng…còn mình thì đọc là “bánh dzá” hehe.

Một mai em gái lấy chồng
Ai mần bánh dzá Chợ Giồng anh ăn…

Mà nghe đồn đâu ở miệt  An Giang cũng có thứ bánh tương tự, nguyên liệu có thêm khoai môn, củ sắn, xong cái chế vô cái cống để đong, nên cọi là bánh cống.

Phong chưa ăn Phong không biết 🙂

Gò Công cảnh cũ: dinh tỉnh trưởng Gò Công

Tối qua có đi coi xi nê CÔ HẦU GÁI, một phim kinh dị lấy bối cảnh An Nam những năm 1953 tại đồn điền cao su Sa Cát trù phú. Mình ngờ ngợ ngay cảnh quay ngôi biệt thự của ông chủ đồn điền những chi tiết rất quen thuộc. Tìm kiếm thông tin trên mạng thì không có, nhưng mình vẫn nghĩ 99% bối cảnh nầy là ở DINH TỈNH TRƯỞNG GÒ CÔNG (dân địa phương hay kêu là Dinh ông chánh).

Dinh Tỉnh trưởng tức ngôi nhà ở của Chánh tham biện Gò Công – Thái Lập Thành. Vị trí dinh nằm ngay trung tâm Gò Công, day phía đông là giáp Sân Vận Động Gò Công  và Toà án, Nam giáp đường Thái Lập Thành nay là đường Nguyễn Văn Côn, Tây giáp đường Trần Hưng Đạo và Bắc giáp đường Lộ Dương nay là đường Nguyễn Trọng Dân, xéo qua bên tay trái phía trước là trường Trung học Gò Công của mình. Ngôi dinh thự nầy xây dựng theo kiến trúc Pháp vào năm 1885, bằng toàn bộ vật liệu được mang từ chánh quốc qua. Dinh thự đồ sộ với quy mô một trệt, một lầu, diện tích khoảng một ngàn thước vuông, kiến trúc tương tự như những dinh tỉnh trưởng khác ở Nam Kỳ, tuy nhiên đây có lẽ là dinh bự nhứt.

Theo thầy Phan Thanh Sắc thì sở dĩ lấy năm 1885 là năm xây dựng là bởi hồi năm 1985 nước Cộng Hoà Pháp có gởi cho Nhà Chức trách Tỉnh Gò Công cũ, yêu cầu ngưng xử dụng dinh thự dành cho viên Chủ Tỉnh vì dinh thự nầy khi xây cất Sở Tạo Tác thuộc Bộ Hải Quân Pháp dự trù xử dụng có một trăm năm thôi. Tới năm 1985 là đúng hạn nên báo cho Nhà Chức trách Gò Công đừng xử dụng, nguy hiểm. Gò Công có nhiều dinh thự và ngôi nhà Tây cất nhưng duy nhất chỉ có Dinh Chánh Tham Biện nầy Tây báo cho ta mà thôi. Lúc đó thầy Sắc là Giáo viên Tổ trưởng Ngoại ngữ của trường Trung học Trương Định, Ủy Ban mới nhờ trường xem coi văn thư chữ Pháp do Tỉnh chuyển xuống nói gì, và Ủy Ban cho ngưng xài dinh thự nầy hồi năm đó luôn.

24342668262_2c8e4219de_o

Ngày nay dinh bị hư hỏng nhiều, cũng không có tu bổ gì, phần bên trong hư hỏng gần hết, bên ngoài phần tường đã bong tróc như lở loét. Có một thời gian nó được xử dụng làm …nhà nuôi yến và bị người địa phương chửi bới hết chổ nói. Mặc dầu bây giờ không còn nuôi yến nữa, nhưng kế hoạch trùng tu cũng không thấy đâu.

24450963815_54ff61d907_o 24424745076_46c00b44f3_o 24342671032_5a094c5dbc_o

Dinh đối với mình có nhiều kỷ niệm, nhứt là cái sạp cho mướn truyện cũ ngay trước dinh. Hồi còn ở đó cứ mỗi chiều Thứ Năm là chạy ra tiệm để canh truyện mới ở Sài Gòn đem dìa để mướn, xong cái xách vô trong hành lang chổ dinh, ngay gốc cây bông giấy ngồi đọc ngon lành. Chổ nầy cũng là chổ lý tưởng để tụi con nít chơi bắn kè, chơi năm mười.

24424774466_89b4c5608f_o24155385120_ed8060fbb1_o

 

Sẳn nói về ông Chánh Thái Lập Thành (đọc thêm ở link): tên ông được xử dụng để đặt cho một ngôi trường cấp 2 ở Gò Công- Trường Thái Lập Thành hay trường Nhà Đèn. Sau 75, Cộng Sản xóa bỏ mọi dấu tích của ông, đổi tên trường thành trường THCS Phường 1, tuy nhiên giờ về Gò Công hỏi trường Thái Lập Thành ở đâu, 99% người Gò Công đều biết tỏ (cũng như trường Nam là trường tiểu học Phường 1, trường Nữ là trường nghềGò Công ngày nay). Ở Sài Gòn ngày xưa có hai con đường tên Thái Lập Thành mà ngày nay là đường Đông Du và đường Phan Xích Long.

Học trò TH Gò Công trước dinh- 1992 (hình của chị gái)

thieu-nu-go-cong

Hình ảnh trong bài nầy: mình xin phép xử dụng hình ảnh tìm được của một bạn tên Tan Tran trên Flickr, hình bản chụp rất đẹp, cũng ma mị y như trong phim.

 


Trailer phim Cô Hầu Gái với bối cảnh dinh thự ở đồn điền Sa Cát

 

Gò Công cảnh cũ: về Hạnh Thông Tây thăm mộ ông bà Lê Phát An

Hôm rồi trong chuyến đi Đà Lạt, mình có dịp ghé thăm nhà thờ Mai Anh lần đầu tiên, và cũng có ngồi nói chuyện cùng mấy anh trong công ty về cách người Công Giáo họ ghi ơn ân nhân cho tôn giáo của họ, và cách phổ biến là an táng những người ơn tại khuôn viên nhà thờ.

Lục lại đống hình cũ trên điện thoại, mình chợt bắt gặp mấy hình ảnh khá lâu về Nhà Thờ Hạnh Thông Tây (Gò Vấp, Sài Gòn). Tại đây có ngôi mộ cổ của vợ chồng ông Lê Phát An, con của đại gia phú hộ Huyện Sỹ nổi tiếng ngày xưa, cậu ruột của Nam Phương Hoàng Hậu. Hai ngôi mộ nằm đối xứng hai bên hông nhà thờ, gần cung thánh. Ông Lê Phát An là người bỏ tiền ra xây nhà thờ Hạnh Thông Tây nên sau khi hai ông bà qua đời, thi hài của họ được an táng trong nhà thờ như một cách ghi ơn.

12402223_621602057977570_8447436328806271372_o

Ông Lê Phát An là con trưởng của đại phú hộ Lê Phát Đạt (Huyện Sỹ) từng du học bên Pháp. Ông cũng là mắc nối quan trọng trong mối hôi nhơn của Nam Phương Hoàng Hậu và Bảo Đại. Đọc về ông tại đây: Lê Phát An

  • Trước mộ vợ có tượng người chồng quỳ cầu nguyện, ngược lại trước mộ chồng là tượng người vợ, tay cầm hoa ôm choàng lấy bia mộ chồng.
  • Tượng ông quỳ cầu nguyện bên mộ bà, đầu đội khăn đóng, mặc áo dài quỳ trên gối, trước gối quỳ có đặt bó hoa ông đem tặng vợ mình.
  • Tượng của bà cũng quỳ trên gối, hai tay cầm 2 bó hoa huệ ôm choàng lấy bia mộ của chồng.

Mộ và tượng do hai nhà kiến trúc và điêu khắc nổi tiếng người Pháp là A.Contenay và Paul Ducuing (Ducuing là người đã đúc pho tượng đồng của vua Khải Định, đặt tại lăng Khải Định trước đó) thực hiện tại Pháp chở bằng Tàu về Việt Nam bằng chất liệu đá hoa cương (mộ) và cẩm thạch (tượng) tuyệt đẹp. Mỗi ngôi mộ đều có tượng nhưng tượng ông An được đặt trên mộ vợ và ngược lại, thể hiện sự gắn bó với người phối ngẫu.

Điểm đặc biệt là mặc dầu được người Pháp làm ra nhưng hai tượng nầy rất “Thuần Việt” và “Thuần Nam Kỳ” với tóc búi, áo dài, bông huệ, khăn xếp, bông tai, chiếc dép… nên rất sống động.
10157268_621602124644230_1650096507553042315_n 1919319_621609447976831_2336207701714773399_n

 

hanhthongtay10_kdis

Còn đây là mộ phần bà phu nhơn toàn quyền Đông Dương Jean Decoux  tại nhà thờ Domaine de Marie Đà Lạt (nhà thờ Mai Anh). Bà đã bị tai nạn trong một chuyến đi từ Sài Gòn lên Đà Lạt để giải quyết mâu thuẫn giữa Hoàng hậu Nam Phương và thứ phi Mộng Điệp (bà đã bị tai nạn tại đèo Prenn, sau đó được đưa đi cấp cứu tại bịnh viện nhưng vì vết thương quá nặng nên bà đã qua đời tại đó vào năm 1944), bà chết khi ông toàn quyền vẫn còn đang ở bên Pháp. Chánh bà là người đã vận động mạnh thường quân quyên góp để xây dựng nhà thờ, cưu mang các trẻ em cơ nhỡ, nhứt là trẻ em người dân tộc ở vùng cao nguyên Lâm Viên nầy.img_4903img_4897

*** Sở dĩ đặt trong loạt bài Gò Công cảnh cũ là vì những người nầy đều trực hoặc gián tiếp liên quan tới xứ Gò.

GÒ CÔNG CẢNH CŨ- Đình Gò Táo, Tân Đông

Khách thập phương về Gò Công thăm thú, ngoài những địa danh lịch sử quan trọng, còn một điểm tới khá thú vị: Đình Gò Táo, Gò Công.

Ngay cả giai thoại về chuyện xây đình cũng đủ làm tò mò: được khởi công xây dựng từ hồi năm 1904, dưới sự bảo hộ của đức bà Từ Dũ, đã cho người từ Huế vô để thi công, bảo đảm chất lượng và tánh mỹ thuật của nhà rường Huế. Cũng giữa năm nầy xảy ra sự kiện lụt năm Giáp Thìn khiến cả vùng Gò Công tiêu điều, thêm nữa là tình hình triều đình nhiều thay đổi, Pháp tăgn cường các hoạt động xu thuế nên việc xây dựng đình bị đình trệ. Tới năm 1907, đình mới được xây dựng xong tại địa điểm hiện tại (cách địa điểm cũ hơn cây số)

Đình Gò Táo nhìn từ xaIMG_4562

Điểm độc đáo nữa của của đình mà không nơi nào có được là mặc dầu bị thời gian tàn phá, hầu hết các kiến trúc chính như cột trụ, kèo đỡ, võ ca, nhà hội,…đều đã hư hỏng và đổ nát, mái ngói bị lủng nhiều chổ nhưng nhờ bộ rễ của hai cây bồ đề dày đặc, chạy dọc theo các rường và cắm sâu xuống đất như một cái giá đỡ vững chắc cho phần vách tường và cột còn lại khỏi sụp đổ. Những hoa văn trang trí trong đình dù đã bị rêu phong bao phủ, nhưng vẫn còn đó nét tinh tế, nổi bật trên các cột, kèo, bao lam…

IMG_4538Vết tích còn lại, đánh dấu năm 1907

IMG_4547Hệ thống kèo đã rệu rãIMG_4554

Bao lam & máiIMG_4549

 

IMG_4548Những cây cột rêu phongIMG_4552

 

Nghe nói đình trước đây có sắc phong Thành hoàng bổn cảnh, khôi phục uy danh cho Tả quân Lê Văn Duyệt, người có công trong công cuộc phục vị của vua Gia Long cũng như quá trình khai phá xây dựng miền Nam. Sắc phong bị mất tích hồi những năm 80, một trong những lý do việc trùng tu đình bị trì hoãn khi không biết gốc tích, không biết rõ vị thần hay công thần nào. Một lý do hết sức XHCN.

Chánh điện thờ THẦN, cùng Hữu ban, Tả banIMG_4533

IMG_4550Bàn thờ tiền hiền, hậu hiền chỉ còn lại những mảng gạch nátIMG_4530

Coi qua mấy video trên mạng thì được biết thời Pháp thời Mỹ nơi đây là nơi tụ họp của Việt Cộng. Mình thì bán tín bán nghi, thứ nhứt là địa điểm khá gần với trung tâm Gò Công, lại kê đầu vô thị trấn Tân Tây nên rất tấp nập, việc tụ tập của Việt Cộng ngay khu vực nầy dường như không thể. Hai là, khu vực Tân Đông Tân Tây xưa nay nổi tiếng khá giả (đặc biệt khu nầy rất nhiều nhà kiểu xưa đồ sộ, bây giờ vẫn còn) lại gần sân bay quân sự Gò Công có từ thời Pháp sang tới thời Mỹ, việc tụ tập lại càng khó khăn, Việt Cộng nào dám vô?

IMG_4534

Đứng dưới tán cây mát rượi, giữa mênh mông đồng ruộng, nhìn mái đình xuống cấp, rơi rụng từng ngày mà hậu bối xót xa. Khả năng hồi phục dường như rất thấp, chỉ mong chánh quyền dòm ngó để bảo lưu lại dấu vết còn lại nầy để con cháu đời sau.

IMG_4540

IMG_4558

Cách đi tới ĐÌnh Gò Táo

Từ ngã tư Long Thuận, hướng đi về Tân tây mà thẳng tiến, chạy chừng 5 cây số sẽ tới Nghĩa trang các ông cố nội. Vừa qua khỏi nghĩa trang là có một con đường nhỏ, mon theo con đường nầy tầm 200 thước là thấy đình oai vệ bên tay mặt.

Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc, gió nào độc bằng gió Gò Công

Không biết từ bao giờ trong dân gian Nam Kỳ đã truyền tai nhau câu ca dao “Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc, gió nào độc bằng gió Gò Công”. Hồi nhỏ mình cũng cứ thắc mắc miết, nếu gió Gò Công độc thì độc thế nào? sao lại không có gió nào độc bằng? sao bao con người vẫn sanh sống ở đây?… Cho tới gần đây, có đọc một số bài viết về vùng Gò Công thì mới rút lợi còn 2 giả thuyết đáng chú ý:

  1. Lụt năm Giáp Thìn 1904:
    Xét ra thì Nam kỳ có phước nhứt trong các vùng miền khác, về mặt thiên tai khi không mấy lúc xẩy ra, mà cũng có thể do đó mà dân miệt nầy không có kinh nghiệm trong việc phòng chống, đối phó với bão lụt. Lịch sử nói lại là hồi năm Giáp Thìn 1904 vùng Gò Công đã hứng một trận lụt lịch sử khiến nhiều người chết và tài sản tiêu tùng vô kể.

“Gặp em đây mới biết em còn/ Hồi năm Thìn bão lụt anh khóc mòn con ngươi”…

Đọc lại sách sử thì trận bão năm nầy không chỉ quét tâm điểm vô miệt Gò Công, Định Tường mà còn lan rộng ra miệt Vàm Cỏ, Chợ Lớn, Gia Định và kéo tuốt lên trên Nam Vang. Sách của ông Sơn Nam còn diễn lại là bão đổ vô như hình cánh quạt, rẽ qua hai bên Đồng nai và Cửu Long rồi dồn lại, kẹp Gò Công vô chánh giữa nên bao nhiêu tai ương dân xứ nầy gánh đủ. Nhà cửa ruộng vườn tan nát, trâu bò ngổn ngang, bao nhiêu gia đình ly tán…

“Từ ngày bão lụt năm Thìn/ Đến nay trôi nổi mới nhìn đặng em”

Và cũng có thể từ sự kiện nầy, dân gian đã ví von miệt Gò Công khắc nghiệt qua câu ca dao “Gió nào độc bằng gió Gò Công”

2. Dòng Bao Ngược

Thời mà Nam Kỳ còn chưa phát triển, thì giao thông vận chuyển bằng đường ghe tàu giữ vai trò chủ yếu. Với vị trí nằm giữa hai hệ thống sông quan trọng giữa Đông và Tây Nam Kỳ, mặc nhiên Gò Công trở thành cửa ngõ tự nhiên quan trọng, là điểm trung chuyển giữa hai miệt, phần lớn ghe xuồng xuôi ngược đều ngang qua sông Vàm Cỏ ở Gò Công, đoạn nầy cũng được gọi với tên Bao Ngược

Anh đi chuyến gạo Gò Công/ Anh về Bao Ngược bị dông rách buồm.

Cũng nhớ rằng khi đó ghe xuồng di chuyển không bằng máy dầu, mà bằng sức chèo hoặc dùng buồm để lợi dụng sức gió để chạy. Điều nàysẽ tùy thuộc rất nhiều vào chiều và sức gió. Khúc sông Vàm cỏ qua Gò Công dài chừng 10 cây số, khúc khuỷu hình dấu ngã với độ uốn éo khá sâu (ai giờ chạy trên cầu Mỹ Lợi, lúc xuống dốc mé Gò Công sẽ dòm thấy đoạn sông này quanh co kỳ cục, nhìn như sợi dây bị cuốn tối đa). Với kiểu hình dạng đó, chẳng có gió nào xuôi được, đi đằng nào cũng bị gió ngược do đó người lái phải vững tay, nếu vụng về, thiếu kinh nghiệm thì lật ghe như chơi. Phần nữa là khi sóng bị gió đánh nổi lên cao, khi đến góc khúc thì bị chặn lợi, đổ dồn ra cửa Vàm Cỏ tạo nên những đợt sóng cao, đặc biệt nguy hiểm cho ghe tàu của thương hồ.

Dòng Bao NgượcIMG_1081

Trong khi những tay chèo dẻo dai cũng phải kiêng nể khúc sông thì bọn cá tôm lại cố hết sức bình sinh, lao vào những cuộn nước xoáy âm thầm dưới lòng sông. Mé Gò Công, dọc theo khúc sông nầylà các xóm chày: Xóm đáy (chuyên đóng đáy), xóm ghe (đóng ghe), xóm voi/dôi (cục đất dôi ra giữa dòng sông)…. ngày đêm bủa vây dòng giống thủy tộc bằng nhiều phương tiện: câu, lưới cào, lưới đáy, đặt “đuôi chuột”… Nhờ vậy, mùa nào ở đây cũng sẵn có hải sản nước lợ đương vùng vẫy trong vựa. Nhớ hồi nhỏ, cứ mỗi chiều là má sẽ canh mấy chị đóng đáy bưng cá lên chợ bán, tôm cá loại nầy vừa tươi ngon nhảy roi rói…

Nhìn từ bắc Mỹ Lợi IMG_1089

Ai mà có đọc truyện Hồ Biểu Chánh thì đâu đó sẽ bắt gặp đoạn sông nầy:

“Trước xóm có sông Bao Ngược tôm cá không thiếu gì. Dọc theo mé sông là dừa mọc đám nào đám nấy dầy bịt, đốn lá đó mà lợp nhà, khỏi đi đâu xa cho mất công. Có nhiều rạch và xẻo từ ngoài sông cái đâm vô xóm giúp cho ghe ra vô rất dễ…”


Cá nhân mình thì thấy giả thuyết thứ 2 có căn cứ và hợp lý hơn. Đó là dòng chảy quanh co, điều kiện địa lý hiểm trở, khúc sông uốn lượn, nước xoáy ở vàm sông, nguy hiểm luôn rình rập đối với ghe thuyền… nên giới thương hồ ngần ngại khi qua đây, lần hồi truyền miệng nhau rằng gió Gò Công “độc”.

Đây là thơ tưởng thưởng của Tỉnh trưởng Gò Công (Nam Việt- Quốc gia Việt Nam) gởi tưởng thưởng ông nội mình hồi năm 1955 khi đã cứu sống một ghe bị chìm giữa dòng Bao Ngược khi ông là thủy thủ đò Mỹ Lợi.

img_5072Trong trường ca CON ĐƯỜNG CÁI QUAN của Phạm Duy, trường đoạn VÀO MIỀN NAM có dùng câu ca dao trên để diễn ta sự khó khăn, khắc nghiệt của thiên nhiên nơi vùng đất mới, qua đó cũng tỏ sự vui mừng của con người trước thiên nhiên để vẽ nên non sông nước Việt 

” Hò lơ hó lơ/ Lắng tai nghe tiếng ai đang hò lờ / Hò lơ hó lơ
Đèn nào cao cho bằng đèn Châu Đốc/ Gió nào độc cho bằng gió Gò Công
Vợ chồng son đã nuôi lòng ước mong / Thuận vợ chồng sẽ cùng tát Biển Đông
Hò lơ hó lơ
Lắng tai nghe tiếng ai đang hò lờ
Hò lơ hó lơ…”