Gò Công cảnh cũ: Một cái mả cổ ở Tân Niên Trung

Xứ Gò Công, một cái lộ mới mần ở mé xít xuống cầu Sơn Quy một chút, gần ngã tư Tân Trung từ QL 50 dẫn vô Gia Thuận. Và nhờ cái lộ mới mà mình phát hiện ra một cái mả quý tộc nằm ở thôn Tân Niên Trung xưa mà nay gọi là xã Tân Trung, Gò Công.

 

Theo bia ghi là mả bà Trịnh Thị Hậu (1822-1898 ) con gái út ông Trịnh Hoài Đức, là vợ chánh thất ông Bá Hộ Trần Văn Phước hay Trần Văn Lý. Tò mò là ông Bá Hộ Trần Văn Phước/ Trần Văn Lý là ông nào mà cưới con quan làm vợ?

Xứ Gò Công hồi xưa, thời đầu Nguyễn có họ Phạm Đăng của nhà bà Từ Dụ là nổi tiếng nhứt. Ông Phạm Đăng Hưng sanh năm 1764 tại thôn Tân Niên Đông ở mé gò Sơn Quy. Em gái ông Hưng là bà Phạm Thị Phụng (1782-1875) được gả cho Bá Hộ Trần Văn Đổ (1780-1860) sanh ra bà Trần Thị Sanh (1820-1882) là vợ thứ thất của Trương Công Định. Em trai kế tiếp của bà Sanh là Trần Văn Toàn tự Tú Hội (1824-1888) là người tỉnh Gò Công đậu tú tài có ghi trong niên sử Gò Công, trước 1975 ở kế chợ Gò Công có đường Tú Hội

Họ Trần là họ làm sui gia với họ Phạm Đăng, tức họ quan quyền, thì họ Trần cũng có thể làm sui với Trịnh Hoài Đức.

Theo như bạn Gia Việt người quen mình, thì nhìn năm sanh của bà Trịnh Thị Hậu (1822-1898 ) và biết Tú Hội là em tiếp của bà Sanh thì có thể đoán chồng bà Hậu-ông Bá Hộ Trần Văn Phước hay Trần Văn Lý có thể là con trai của ông Trần Văn Đổ và bà Phạm Thị Phụng, là anh trai bà Trần Thị Sanh

Nôm na nhắc tích vắn dài
Tam sao thất bổn lầm sai miễn tình.

Hoa văn đông tây kết hợp

Một số chi tiết cẩn cẩm miễng sành

Núm bát quái

Câu liễn bị thời gian bào mòn

Thời gian đúng là khắc nghiệt

Một cái mả khác ngay bên canh, vô danh. Nhìn kiểu mả chắc cũng là gia đình có tiền có của.

Đi ngang tháo nón, ngã đầu tưởng nhớ cố nhơn đã tới và gầy dựng mảnh đất nầy. Lòng buồn rười rượi!

Có ai biết nhiều hơn về cái mả này, góp ý cho thê hiểu biết.

Phong Việt

Quốc lộ 50: Đọc sử bằng cách đi đường (6)

Lộ Mưu

Quốc lộ 50 đi thẳng vô tới thị xã Gò Công, vừa băng qua khỏi nhà thờ Thánh Tâm là đường Nguyễn Văn Côn. Con đường nầy có nhiều địa điểm nổi bật của Gò Công như: dinh tỉnh trưởng, trường TH Gò Công, trường Thái Lập Thành, sân vận động… Có ai biết rằng con đường nầy  trước đây dân địa phường gọi là Lộ Mưu.

Hồi còn đi học, ngày nào mình cũng đi học nhà thầy Hoành trên con đường nầy nên cũng không xa lạ. Ấy vậy mà vừa rồi đi lang thang khu nầy, vô tình  phát hiện một ngôi nhà cổ núp mình trong một cái hẽm cụt trên đường nầy và thưa chuyện với một người cháu dâu hàng cố của gia chủ, năm nay cô đã 77 tuổi. Té ra đây là nhà bà hộ Trương Văn Mưu –Bá Hộ Mưu của làng Thành Phố xưa- tiền thân của thị xã Gò Công nay.

Căn nhà kiểu xưa truyền thống với ba gian hai chái, nóc có ba lớp ngói, ba cửa chánh và toàn bằng lá sách, một dãy lẫm lúa và nhà cho người giúp việc kế bên, xây năm 1906. Nền đúc cao có tam cấp đi lên, nền gạch Tàu, diện tích nhà chánh là 293 m2, kiểu nhà vườn, khuôn viên rộng rãi hơn 15.000 thước vuông. Diện tích vườn của nhà Bá Hộ Mưu rộng hơn cả vườn nhà trăm cột bên Cần Đước (rộng 4.044 m2)

Trò chuyện mới biết đây là cái nhà bối cảnh chánh trong phim ‘Tình án” của Hồ Biểu Chánh của đài truyền hình Sài Gòn. Tiếc là mình không tìm ra link của phim nầy để coi nó lên hình trông ra sao?

Được biết trước 1975 con đường phía trước được đặt tên là đường Hộ Mưu do khi xưa đây là ruộng, ông bá hộ Mưu đã cho đắp thành đường, cũng gần đó có một cái ao nước ngọt tên là ao Ông Hộ, sau 75 đường Hộ Mưu bị đổi tên thành đường Nguyễn Văn Côn.

Nói thêm về ông Nguyễn Văn Côn, ông là Việt Minh – năm 1945 là Bí thư Tỉnh ủy Gò Công. Có cái ác đạn, dân đồn rằng chính ông Côn là người ra lịnh giết chết một đứa con của ông bá hộ Mưu thời năm 45.

Ông bà ta có câu :”Không ai giàu 3 họ,chẳng ai khó 3 đời”, đó là từ triết lý “Thạnh cực tất suy” của vô vi. Cái thời hét ra lửa, võng lọng xênh xang của những ông Bá Hô, bà Cai Tổng, ông Hội Đồng…đã không còn, thời gian xóa nhòa hết thảy. Sau 1975 các nhà cổ kiểu nầy lớp do nhà nước CS lấy, lớp bị con cháu bán, lớp ráng giữ do công của con cháu. Còn thì còn đó nhưng cũ nát, con cháu không đủ sức để duy tu sửa chữa,chạy ăn hộc xì dầu thì tiền của đâu mà sửa nhà.

Còn chi nữa biển dâu đã bao đổi dời.
Về phương Nam ngắm sông ngậm ngùi,
Thương những đời như lục bình trôi.

Trường TH Gò Công, giờ là TH TRương Định, trên đường Lộ Mưu. Giờ trường nầy bị đập lại xây mới, cổng trường và dãy phòng học cũ đã bị xóa sổ. Tấm hình nầy chỉ còn là kỷ niệm

Chụp ngay cổng trường xưa, đố kiếm ra Phong 😀

Dinh tỉnh trưởng Gò Công

Phong Việt

Mùi quê hương, mùi cứt trâu

Nếu có cuốn từ điển về mùi, thì lục rách cuốn từ điển đó bạn cũng sẽ không tìm thấy cái định nghĩa loại mùi mang tên … quê hương, bởi nó là một “dạng” mùi thuộc về ký ức, thuộc về “những điều cũ kỹ” hoặc được “hửi” bằng mũi của những người yêu-mến quê hương.

Mình có thói quen là mỗi lần về quê, vừa vào địa phận Tiền Giang là mình tháo khẩu trang ra, để gió lòng vào nón bảo hiểm, mình thì say sưa ngửi thứ mùi của lúa, của cây cỏ, của sình lầy, của đồng quê… Thứ mùi ấy thật dễ chịu, làm căng phồng cả phổi, làm cho lồng ngực bỗng rộn ràng như trẻ thơ đón mẹ đi chợ về.

Đó là mùi khói đốt đồng, khói trắng bao trùm hết một khúc lộ; mùi lúa mới trổ bông hăng hắc xa xăm; mùi nồi cháo lòng ngun ngút khói thơm phức của cô Bảy Xíu đầu chợ; mùi nước mưa được hứng bằng mái lá hơi hăng mà xối lên một phát thì rôm sảy lặn hết trọi…

Đó là mùi mấy cây đước, cây dầu gió được ngâm dưới ao mấy năm trời, được móc lên phơi khô để làm cột nhà. Đước ngâm càng lâu càng chắc, bùn sình thấm vào thành màu đen mun dòm chắc chắn lại không bị mối mọt. Cái thứ mùi của loại nầy vừa thum thủm khó chịu nhưng quên không đặng.

À, có một thứ mùi bảo đảm các cụ ông cụ bà dầu có đi xa hằng mấy chục năm vẫn phải nhớ, đó là mùi cứt trâu. Có lần một người chú Việt Kiều ở xa đã rơi nước mắt khi thấy… bãi cứt trâu bên đường, cái mùi hăng hăng đặc trưng của nó, chú nhớ về thời ông nội chú còn sống, bên hiên nhà có nuôi một con trâu, mỗi khi từ Sài Gòn về quê chú lại vẫn dắt trâu ra đồng…

Ngày nay “nông thôn mới” đã hô biến những con trâu mất tiêu, trâu không còn thì làm gì có ..cứt mà hửi, đường làng bê tông hóa, hàng rào B 40 bê tông cao ngút thay thế hàng rào dâm bụt, hàng rào tre thửa nào.

Vô nông thôn nắng cháy da, tiếng loa Boss xập xình “Phận là con gái…” tra tấn lòi lổ nhỉ. Hỏi trâu bò đâu hết rồi thì được trả lời “Bây giờ ai nuôi trâu nữa cha nội ơi”. Đôi lúc chợt buồn, có khi mơi mốt muốn hửi mùi cứt trâu phải vô khu … du lịch.

Nhớ mùi cứt trâu quá!

Phong Việt

Mùa bông so đũa

Người Nam Kỳ mình vốn là dân khẩn hoang, ông bà xuất xứ lưu dân nên ăn rất nhiều rau cỏ, từ rau dại tới rau trồng. Trong bữa ăn người Nam lúc nào cũng có rau. Người Nam kêu hoa là bông, có thói quen bẻ bông làm đồ ăn. Kể ra có hàng chục loại bông từ bông bí, bông mướp, bông cải, bông hẹ, bông điên điển…

Bữa cơm dân Nam Kỳ xưa rất dễ dàng kiếm ra rau rác, ra mương, ra kinh bắt vài con cá, ra mé hè bẻ vài nắm rau, tiện thể ngắt vài đọt bầu, hái chừng chục cái bông so đũa, nhổ mấy cọng bông súng là có nồi canh chua bự chảng bốc khói thơm phức

Không gì bằng cá nấu canh
Bỏ bông so đũa mới rành dân quê


Có một loại cây cũng thuộc loại mọc hoang bên hè, bên hàng rào, trong vườn của dân Nam, thuộc loại cây tạp, nhưng có cái bông bá đạo tôn vinh nồi canh chua cá đồng lên hàng nức tiếng đó là cây s
o đũa.


So đũa có bông thường vào tháng 9 tháng 10 âm lịch, tức là mùa nước ngập. Nó ra bông sau bông điên điển. Thành thử ra hết mùa điên điển canh chua cá linh thì dân Nam có so đũa nấu canh chua với cá rô, cá lóc đồng. Đặc biệt h
ằng năm bông so đũa chỉ ra hoa một lần. Đến cuối mùa, mỗi cành cây đều mang nặng những trái dài thon thả, đều đặn giống như những chiếc đũa cặp đôi treo lủng lẳng trên cành. Theo truyền miệng trong dân gian, có nhiều cặp trai gái yêu nhau đã mượn mùa bông so đũa để hẹn hò

Ra giêng so đũa thành đôi

thì mình sẽ lấy, thành đôi vợ chồng

Hồi còn nhớ mình nhớ cứ mỗi mùa nầy là cả đám con nít trong xóm hay rủ nhau đi hái so đũa, nhứt là mớ so đũa mọc hoang ngoài mấy gò mã. Cả đám trốn ngủ trưa rồi tụm năm tụm ba hì hụi đi hái bông. Hái bông so đũa rất vui, có đứa trèo lên cây với tay bẻ cả nhánh quăng xuống đất, có đứa dùng sào dài làm bằng nhánh cây bình bát để giựt từng chùm bông. Bọn con gái không biết trèo thì ngồi dưới gốc cây chờ những chùm bông trắng nõn rơi xuống rồi cùng nhau lượm bỏ vào giỏ, rồi nhí nhảnh cài lên mái tóc mình một chùm bông trắng muốt, hả hê vui đùa một cách hồn nhiên. Chỉ có thế thôi mà sao tôi cứ nhớ mãi.


Bông so đũa có mùi ngọt nhẫn nhẫn rất đặc biệt trong nồi canh chua, cái vị của riêng nó mà không có bông nào bì được. Giờ đây có đủ loại bông, hết trắng tới đỏ nhưng hương vị không còn như xưa nữa.

Bây giờ xa quê (mặc dầu không xa lắm), trở về trong giây phút chạnh lòng, tôi lại thèm một nồi canh chua cá đồng nấu với bông so đũa do chính tay mẹ mình chăm chút. Tiếc rằng cuộc sống cũng như một dòng chảy mang theo tất cả những vui buồn khiến cho chúng ta phải xa quê, xa kỷ niệm để cứ mỗi mùa bông so đũa đến, tâm hồn lại tràn ngập nhớ nhung.

Phong Việt

Nam Kỳ ký ức: hàng ba

“Đêm đêm ra đứng hàng ba. Trông về quê mẹ lệ sa buồn buồn…”

“Hàng ba” là từ chỉ xuất hiện  ở Nam kỳ và có thể gọi là phương ngữ nam kỳ. Nếu như ở miền Bắc hay Trung, người ta xài từ “thềm nhà” hay “hành lang”, thì người Nam kỳ xử dụng từ nầy, nghe loáng thoáng đâu đó vẫn thân thương và gần gũi hơn.

Kiểu nhà thông dụng nhứt ở đây là kiểu nhà 3 gian 2 cháy, kiểu chữ đinh. Hàng ba chiều ngang bằng với chiều ngang ngôi nhà, nhưng dài chỉ từ một mét rưỡi đến hai mét (1,5 – 2m), được rào bởi xi măng và những bông gió thâm thấp, trên là những miếng gạch hai tấc tạo thành cái bệ dài. Chủ ý hàng ba không phải ngăn kẻ trộm, mà là bệ ngồi cho bạn bè chiều chiều nhảy phóc lên hàng ba tán dóc, chuyện trò…

Với đám nhóc chúng tôi, hàng ba là một sân chơi đầy thú vị những ngày hè hoặc sau giờ học. Hàng ba là nơi con gái chơi nhảy dây, lò cò, tạt lon; tụi con trai thì chơi tạt lon, bắn kè; là chổ mẹ ngồi lựa thóc hay chảy tóc cho con gái mỗi bữa trưa hè.

Như trong đoạn cải lương trong tuồng Nửa đời hương phấn, đoạn chị em The với Diệu tâm sự cùng mẹ ở chùa, cảnh bà mẹ mô tả cảnh gia đình quấn quít ngoài hàng ba mà muốn khóc.

 

Quốc lộ 50: Đọc sử bằng cách đi đường (5)

Lộ Dương ở Gò Công

Chúng ta bắt đầu từ bên kia bắc Mỹ Lợi -Cầu Nổi, con lộ “ngựa trạm” xưa –rồi liên tỉnh lộ 5-nay là quốc lộ 50 xuất phát từ địa đầu tỉnh Gò Công. Người Gò Công xưa và nay lúc nào cũng hướng về Sài Gòn hơn Mỹ Tho, mặc dầu Mỹ Tho gần Gò Công hơn Sài Gòn, thành ra ai cũng qua bắc Cầu Nổi, bước qua cái lộ này hết.

Quốc lô 50 xưa khúc từ Cầu Nổi băng qua chợ Mỹ Lợi, đi ngang Xóm Tre của làng Bình Thạnh Đông xưa rồi qua cầu Sơn Qui, gò Sơn Qui (Tân Niên Trung) của nhà họ Phạm chạy về tỉnh lị Gò Công xưa.

Hai bên lộ trồng toàn là cây dương tức cây phi lao lâu năm, cây bự, tán rông và cao, lá xanh nhuyễn nhừ nhọn hoắc như kim may. Dân Gò Công đặt tên con lộ này là ‘Lộ Cây Dương”, lâu ngày gọi tắt là Lộ Dương

Lộ Dương hồi xưa rất thưa thớt người đi lại, nhà cửa hai bên không có nên vắng ngắc. Gò Công là tỉnh đò giang cách trở, “hốc bà tó” nên du khách ít ghé thăm. Trên đường thỉnh thoảng có chiếc xe ngựa. Hồi bà nội còn sống, bà hay kể hồi đó từ nhà mình đi vô thị tứ Gò Công hơn 15 cây số, hai bên đường thênh thênh ruộng lúa, khúc thì mịt mù bụi bờ nên thú dữ vô số. Khúc gần ngã Ba Bình Xuân có một cái mả bên phải vệ đường, nghe nói đâu là mả cũng một ông chuyên giết hổ trong vùng, sau dân thờ tự và đấp mã cúng cho tới ngày nay.

Nhà kiểu Gò Công- ngã Ba Bình Xuân

Ông Hồ Biểu Chánh miêu tả :”Trên lộ Cây Dương xe ngựa đưa người núc ních chạy chậm rì, tiếng lục lạc nhỏ khua xa xa nghe như tiếng nhái”

“Thiệt như vậy, giồng Sơn Quy đầu trong vô tới mé sông Gò Công, còn đầu ngoài đụng con đường quan lộ Gò Công lên Chợ Lớn. Hiện giờ du khách đến đó thì thấy dân cư thưa thớt, nhà cửa xơ rơ…” (Hồ Biểu Chánh)

Đường vô Tân Niên Trung

Lộ Dương chạy thẳng vô khu trung tâm Gò Công xưa. Tại đây có sân banh, dinh chánh tham biện, trường học, tòa án, khu này có mấy cái ao trữ nước mưa cho các công sở gọi là Ao Thiếc.

Dinh chánh tham biện Gò Công là tòa nhà hình bánh ú kiểu Tây, một tầng lầu được xây trong khuôn viên khá rộng

Năm 1864, Đô đốc De la Grandière thiết lập các Sở tham biện (hạt thanh tra or tiểu khu) ở Nam Kỳ do quan người Pháp coi sóc. Từ năm 1865, Nam Kỳ có các tham biện sau : Sài Gòn, Chợ Lớn, Cần Guộc, Tây Ninh, Gò Công, Tân An, Mỹ Tho, Cai Lậy, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Long Thành, Bảo Chánh, Bà Rịa.

Như vậy hạt tham biện Gò Công đã có từ 1865. Đứng đầu hạt tham biện là quan chánh tham biện người Pháp và khu vực của chánh tham biện được gọi là sở tham biện. Năm 1874 thì gọi là ‘địa hạt”, sau 1900 thì gọi là tỉnh, quan đứng đầu là ‘chủ tỉnh”

Dinh tỉnh trưởng Gò Công – đọc thêm ở đây 

Gò Công là tỉnh nhỏ xíu. Theo tài liệu “Annuaire de la Cochinchine Française, 1887”thì năm 1887 Gò Công có 64.170 người An Nam, 13 người Pháp, 588 người Tàu và 14 người Ấn Độ. Dinh chánh tham biện nằm quay mặt tiền ra đoạn đầu của lộ Hộ Mưu sau 1954 đặt là đường Thái Lập Thành. Mặt tiền dinh đâu mặt với trường trung học công lập Gò Công(trường Trương Định) bên phải của dinh là Lộ Dương và sân banh Gò Công.

Xa xa phía sau trái của dinh là cái tháp chuông cao vút của nhà thờ Thánh Tâm xây năm 1940. Chạy từ cầu Sơn Qui theo Lộ Dương quẹo đường Gia Long, vô Tổng Tứ qua cầu sắt Long Chánh về Mỹ Tho.

Phong Việt

 

Coi lợi tuồng cải lương: LƯƠNG SƠN BÁ CHÚC ANH ĐÀI

Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài là một tích Tàu khá nổi tiếng mà chắc ai trong chúng ta cũng từng nghe qua. Trong cải lương, tuồng nầy cũng khá nổi tiếng, nhứt là trong phong cách cải lương Hồ Quảng.

Lạm bàn

Thường người ta phân loại ra ba loại tuồng cải lương: xã hội, dã sử và Hồ Quảng. Tự Ðiển Mở Wiki gọi “cải lương Hồ Quảng” bằng một tên nữa là “cải lương tuồng cổ.” Cái tên nầy giúp người ta hiểu được tổng quát về nội dung của loại hình nghệ thuật trình diễn nầy. “Cải lương Hồ Quảng” cũng là cải lương, nhưng tuồng tích dựa vào những tuồng cổ, mà thường là tuồng cổ Tàu.

Nhiều người cho là nó không thuần Việt và hoàn toàn Tàu, mình thì không đồng ý quan điểm trên. Rõ ràng có sự vay mượn nhưng hoàn toàn mang một sắc thái riêng. Có thể nói đây là loại hình cải lương có nguồn gốc phức tạp từ cải lương Nam Kỳ, hát bội, Kinh kịch, kịch Quảng Đông, võ thuật, nhạc Đài Loan… Tuy nhiên, qua cách trình diễn của các nghệ sĩ An Nam, tất cả các loại hình nghệ thuật nầy phối hợp nhuần nhuyễn với nhau, tạo thành một sắc thái riêng. Khán giả thưởng thức một vở tuồng diễn theo lối cải lương Hồ Quảng nhìn thấy ngay là nó rất Việt Nam, không lẫn với ca kịch Trung Hoa được. Ðó là cái tài của người nghệ sĩ, mà đó cũng là cái đặc thù của văn hóa Nam Kỳ, đón nhận cái của người, nhưng biến hóa nó, thăng tiến nó để nó hay hơn, đẹp hơn mà lại có tính chất Việt Nam.

Lương Sơn Bá- Chúc Anh Đài

Tích Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài về nàng Chúc xinh đẹp cải nam trang đến Nghi Sơn học tập, vô tình cờ gặp gỡ một thư sinh thật thà là Lương Sơn Bá. 3 năm học hành với nhau, Chúc sanh tình với họ Lương nhưng Lương Công tử hoàn toàn không nhận ra. Ngày chia tay, Chúc hứa sẽ mai mối em gái cho Lương. Khi Lương đến thì mới biết người con gái đó chánh là Chúc Anh Đài.

Tưởng chừng đến được với nhau, nhưng họ Chúc đã được phụ mẫu hứa gã cho Mã Văn Tài cũng là đồng môn hồi ở Nghi Sơn. Phiền muộn, Lương Sơn Bá qua đời khi đương nhiệm quan tri huyện. Ngày rước dâu ngang qua mộ chàng Lương, bỗng cơn cuồng phong nổi lên, mộ phần Lương Sơn Bá mở ra và Chúc Anh Đài đi vào trong đó. Sau đó, từ trong mộ, một đôi bướm rất đẹp quấn quýt bên nhau và cùng bay đi, bên nhau hạnh phúch.

Tuồng cải lương

Mình coi tuồng nầy lần đầu do Phượng Mai diễn hồi còn truyền hình đen trắng, giờ kiếm lại video đó thì không hấy nữa. Cũng nói thêm, trong các nghệ sĩ cải lương thì Phượng Mai được mệnh danh là Hồ Quảng chi bảo. Mình nhớ hoài một giọng ca thanh trong, một vóc dáng nhỏ nhắn, một gương mặt thanh tú . . . tất cả đã tạo nên một Phượng Mai tài sắc vẹn toàn, một nét riêng không lẫn với bất kỳ nghệ sỹ nào.

Coi Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài dễ thấy nhứt sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cải lương nguyên thủy, ca kịch Quảng đông kết hợp vũ đạo và nhạc truyền thống Nam Bộ.

Dưới đây là trích đoạn hay lúc Lương Chúc tạn mặt và kết nghĩa huynh đệ, tên đường  đến Nghi Sơn. Lớp diễn cũng khá hay với tài ứng biến và tung hứng của Vũ Linh và Kim Tử Long.

 

Tháng Giêng đi đình Phú Mỹ – Nhà Bè (3)

Một phần quan trọng của cúng đình là phần đọc văn tế thần. Tìm hiểu thêm thì biết thêm khá nhiều điều thú vị.

Văn tế thần thường chia thành 2 phần: lòng linhlòng văn.

  • Lòng Linh là phần liệt kê tên của các vị thần được mời tới chứng giám. Lòng linh sẽ khác nhau giữa các đình, ban hội tề thường là những người sẽ cung ứng phần lòng linh nầy.
  • Lòng Văn là những lời cầu nguyện, ca ngợi công đức các vị thần, cảm tạ các vị đã ban phước cho chúng sanh. Thường phần lòng văn sẽ có một “format” nhứt định, các thầy lễ thường cũng cọp dê qua lại sao cho phù hạp với xứ của mình.

Được biết văn tế xưa phải viết bằng chữ nôm trên giấy hồng điều. Nhưng ngày nay không mấy người biết chữ nôm nên người ta viết chữ quốc ngữ, nhưng vẫn phiên âm theo kiểu chữ nôm hơn là bằng kiểu thuần Việt.

Đây là phần mình nghe và chép lại ở đình Phú Mỹ, lúc được lúc không, sẽ có chổ sai chánh tả do cổ ngữ. Kèm đó là phần dịch trại do ông bác dưới quê hỗ trợ và điều chỉnh.


BỔN VĂN CẦU LỆ ĐÌNH THẦN PHÚ MỸ- NHÀ BÈ

Duy.

Tuế thứ, Đinh Dậu niên, Canh Ngọ nhựt lương thần.

An Nam quốc, Gia Định tỉnh, Nhà Bè quận, Bình Thị Hạ tổng, Phú Mỹ Tây thôn.

Hiệp toàn bổn viên quan: niên hương Nguyễn văn Nghiêm, chánh tế Trương Văn Toạ, bồi tế Nguyễn Hiếu Nghiệm, toàn bổn viên quan viên chức bổn điền chư hiệp giả, nam phụ lão ấu đồng đẳng. 

 

Cẩn vỹ cang lạp, tư nghị, chước, kim ngân, hương đăng hoa quả, phẩm vậy chi nghi. 

Hôm nay ngày Canh Ngọ, năm Đinh Dậu, chọn giờ lành chúng tui toản thể nam phụ lão ấu, các viên chức ……. cùng các giới thuộc thôn Phú Mỹ Tây, tổng Bình Thị Hạ, Quận Nhà Bè, tỉnh Gia Định, nước An Nam đều tề tụ về đây, kính trình lễ vật gồm xôi rượu vàng bạc nhang đèn hoa quả.

 

Cảm chiêu cáo vu.

Kính dưng lời khẩn tỏ cùng

Thiên địa thần ký tôn Thần, sơn xuyên nhạc độc tôn thần, bổn cảnh thần hoàng tôn thần, bổn cảnh bổn xứ thổ địa tôn thần hiệp toàn phước thần chư vị, tế dương niên hành khiếu hành binh tôn thần, hữu ban tả ban liệt vị tôn thần, ngũ phương thổ công-thổ chủ chi thần, ngũ hành tiên nương chi thần, thần nông hậu tắc tôn thần, sơn lâm chúa tể mãnh hổ đại tướng quân, chúa ngưu mang nương chư vị, lang lại đại tướng quân chư vị, cổ nhơn hiển thánh chi thần, tiền hiền hậu hiền khai khẩn chi vị, viên quan chức sắc hương chức tiền vãn chi vị, chiến sĩ trận vong chi vị, viết minh minh linh đức chi thiên địa.

   —– y như chữ Nôm——-

 

Tư nhơn tiết giới trọng xuân, lễ đặc trần hy sinh thiết, tải ca xướng tế cáo. Nhất diêm, tỷ xí tỷ xương, vĩnh bảo lâng trung khang thái, viết phú viết thụ.

Hôm nay nhơn tiết giữa trời xuân, chúng con bày ra lễ vật, trình ca xướng hát để khẩn xin chư vị để giúp đỡ bà con làm ăn hưng thịnh, an khang mạnh dõi.

Quốc thới dân an tăng phước chỉ, phòng điều võ thuận hưởng an ninh. Nhựt nhựt thạnh cường tam nông ủy vọng. Gia gia cấp túc vạn vật toại sanh. Hựu thôn trung phú hữu, bảo hương nội hòa bình.

Nước nhà thái bình, nhân dân an lạc là cái nền thêm phước. Lại thêm mưa thuận gió hòa, miền miền được an ninh, ngày thêm thịnh vượng hùng cường. dân sống sung túc, bảo hộ khắp nơi hòa bình

 Ngưỡng lại thánh thần chi gia huệ giã, phục duy cẩn cáo.

Cuối xin tôn thần ban phước. Kính cẩn khấu đầu bái chư liệt vị!

Quốc lộ 50: Đọc sử bằng cách đi đường (4)

Qua khỏi chợ Cần Đước chạy thẳng chừng 4 cây số là tới Cầu Nổi. Còn nếu ngay chân cầu chạy thẳng luôn thì sẽ ra bến phà cũ, bây giờ thành đường cụt nên cũng hoang tàn lắm.

Mỹ Lợi

Mỹ Lợi ngày nay là tên một cái cầu bê tông, trước là tên một cái bắc qua sông Vàm Cỏ là ranh giới hai tỉnh Long An và Tiền Giang,vị trí phía bắc Gò Công và phía nam Cần Đước.

Bắc Mỹ Lợi xưa (Zing)

Cầu Mỹ Lợi nay

Xưa nay dân hai bên gọi là đò Bao Ngược, rồi hồi thập niên 60 người Mỹ thả trái nổi làm cầu bắc nên dân gọi là bắc Cầu Nổi, Cầu Nổi thành một địa danh vùng của Cần Đước, trên xe đò xe bus đều ghi Cầu Nổi là cái vùng hai bên cái bắc –mặc dù tên chánh thức là phà Mỹ Lợi. Nghe ba má kể hồi trước 75, ngay bến phà cũ có gắn cái chữ MỸ LỢI bằng xi măng ngay cổng vô bên bắc, sau nầy “mấy ổng” tháo xuống, dẹp luôn cái tên ấp Mỹ Lợi, đổi thành Trí Đồ. Mà cũng không ai biết và hiểu Trí Đồ có nghĩa gì với xứ nầy.

Mỹ Lợi xuất xứ ở đâu?

Hên là ông Hồ Biểu Chánh có táy máy tay chưn khi viết tiểu thuyết về địa phương của mình. Trong «Cay đắng mùi đời» có đoạn : «Ai đi đường Chợ Lớn xuống Gò Công, hễ qua đò Bao Ngược rồi lên xe chạy ra khỏi chợ Mỹ Lợi, tới khúc quanh, thì sẽ thấy bên phía tay trái, cách lộ chừng ít trăm thước, có một xóm đông, kêu là Xóm Tre, nhà ở chật, cái trở cửa lên, cái day cửa xuống, tre xanh kịt bao trùm kín mít, ngoài vuông tre thì ruộng bằng trang sấp liền từ giây»

Và một đoạn nữa :

“Năm ngoái qua chở thằng con qua lên Sài Gòn uống thuốc, đi tới Nước Xoáy qua có gặp một đứa nhỏ chừng mười ba, mười bốn tuổi đờn ca giỏi quá. Qua có hỏi nó, nó nói tên Ðược, gốc ở chợ Mỹ Lợi thuộc hạt Gò Công, chắc là nó đó chớ gì?”

 

 

Ngôi nhà kiểu Gò Công

Như vậy Mỹ Lợi là một cái chợ nằm bên mé Gò Công và từ 1923 chợ Mỹ Lợi vẫn còn. Năm nầy đã có bắc Mỹ Lợi nhưng dân gian vẫn quen gọi là đò Bao Ngược.

Gò Công là tỉnh nhỏ xíu khoảng 600 cây số vuông, là một bán đảo, bị sông và biển bao bọc. Xưa muốn về thành Gia Định thì chỉ có đi đò, đi ghe.

Bằng tài công đò Mỹ Lợi

Bằng khen cứu người của thủy thủ đò Mỹ Lợi

Vua Tự Đức dính quê ngoại Gò Công nên là người cho đắp con đường bộ chạy ngựa từ Gia Định xuống giồng Sơn Quy để liên lạc với quê ngoại mà nay là quốc lộ 50, trước là liên tỉnh lộ 15, trước nữa kêu là lộ Hàng Dương vì hai bên đường có trồng cây dương bự và mát lắm.

Pháp qua đã mở rộng, trải đá dăm con đường ngựa trạm đó nối Gò Công với Chợ Lớ, tất nhiên đều phải đụng con sông, cái đò Bao Ngược và sau nầy là bắc Mỹ Lợi-Cầu Nổi. Bắc Mỹ Lợi-Cầu Nổi là cái bắc “địa đầu” và quan trọng nhứt của tỉnh Gò Công xưa nên Pháp cho xà lan chạy máy ,trong khi bắc Chợ Gạo thì dùng tay kéo. Dân Gò Công cần cái bắc nầy nhiều hơn dân Cần Đước nên địa danh Mỹ Lợi lấy từ mé Gò Công chăng?

Năm 1889, thời Pháp thuộc, thái hậu Từ Dũ sai vua Thành Thái về lăng mộ họ Phạm ở Gò Công bái tổ tiên, vua Thành Thái theo đường ngựa trạm từ Chợ Lớn về đến bờ bắc bến đò Mỹ Lợi, qua đò sang Gò Công, tháp tùng có quan toàn quyền, chánh tham biện Gò Công và các quan viên trong tỉnh. Hương chức và người dân hai bên đường bày hương án đón tiếp.

Mỹ Lợi thẳng đến Gò Công
Tam quan tám cửa, Khánh môn nối liền
Lọng tán cờ biển hoan nghênh
Hội tề khăn áo rộng xanh đứng chờ

Năm 1942 vua Bảo Đại đích thân lái xe hơi đi theo con đường quốc lộ 50 cùng Hoàng hậu Nam Phương về Gò Công bái tổ và cũng dừng chưn –bước lên bắc Mỹ Lợi qua xứ Gò .

Tháng Giêng đi đình Phú Mỹ – Nhà Bè (2)

Lạm bàn về sắc phong THẦN HOÀNG BỔN CẢNH

Đọc lại lịch sử, khi những người lưu dân từ miền ngoài vào trong nầy khai khẩn, hầu hết chỉ mang theo mớ hành trang vật chất đơn sơ, ít ỏi, nhưng bên cạnh đó là thứ hành trang tinh thần của tính khí phiêu lưu, phóng túng, không buộc mình vô khuôn khổ phong kiến, tinh thần hiệp nghĩa đến vùng đất mới. Rồi cũng ổn định, rồi họ đã khoắc khoải nhớ quê hương đất cũ. thôn xóm hình thành, họ lấy những tên làng xóm bắt đầu với những từ tốn đẹp ” Long, Vĩnh, Bình, An, Tân, Phú…”. Và rồi họ lập đình với nguyện vọng ban đầu là nơi công nhận “tên” và “biểu trưng” của thôn làng mình.

Mình đọc qua nhiều sách, nếu không lầm thì chỉ thấy sắc phong cuối cùng là vào năm thứ 18 của trào Bảo Đại (1943). Như kỳ trước đã nói qua, đình Phú Mỹ lập thành hồi năm 1953 nên chắc chắn sẽ không có sắc phong của triều đình Huế.

Nói thêm về sắc phong, một phần là nhu cầu tâm linh, cộng thêm là ý muốn tạo lập một thiết chế văn hóa tính ngưỡng chánh thống của vương trào mới, xóa bỏ ảnh hưởng của trào đại trước nên dưới thời các vua Nguyễn, cứ mỗi 3 năm sẽ ban sắc phong thần một lần. Sắc phong thường giống nhau ở các địa phương, chỉ khác nhau tên địa phương nầy với địa phương kia mà thôi.

Sẽ có người hổi Thành Hoàng là ai? Sắc phong của triều đình cho vị thần nào cũng đồng nghĩa với việc xem vị thần đó là cơ sở pháp lý phụng mệnh nhà vua xuống làm thần quyền của làng xã. Khi vị thần nào có sắc phong của nhà vua cho một làng nào đó thì các vị thần đó mặc nhiên được gọi là Thành Hoàng của làng. Đây có thể coi là biểu trưng, là chủ tể của cõi thiêng liêng của làng và đều mang tính chất là hộ quốc tý dân (bảo vệ đất nước giúp dân đen- Sơn Nam). Nó có ý nghĩa đặc biệt với lưu dân, khi đương đầu với nhiều khó khăn do thiên tại địch họa, thú dữ hoành hành; họ cần Thần để giúp mưa thuận giá hòa, mùa màng tươi tốt, mà cái này dễ thấy nhứt qua các bức hoành phi trên nóc các đình “Phong điều vũ thuận” hoặc “Vạn dân lạc nghiệp”

Quay lại đình Phú Mỹ, dù không có sắc phong, sanh sau đẻ muộn nhưng cách bố trí đình cũng rất bài bản với các bài trí các trang thờ:

  • Chánh giữa điện: THẦN
  • Gian giữa: Liệt thánh hội đồng chi vị
  • Tả ban thần vị- viên quan chức tước hương chức hiền giả chi vị
  • Hữu ban thần vị- tiền hiền hậu hiền khai hóa chi vị
  • Điện tiền hương án

 

Hằng năm, đình Phú Mỹ hội những lễ lớn sau:

  • 07 tháng giêng: hạ nêu
  • 16 tháng giêng: kỳ yên
  • 05 tháng năm: đoan ngọ
  • 11 tháng năm: hạ điền
  • 16 tháng bảy: trung ngươn
  • 16 tháng mười: cầu bông
  • 25 tháng chạp: đưa thần
  • 30 tháng chạp: rước thần