Coi lợi tuồng cải lương: LƯƠNG SƠN BÁ CHÚC ANH ĐÀI

Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài là một tích Tàu khá nổi tiếng mà chắc ai trong chúng ta cũng từng nghe qua. Trong cải lương, tuồng nầy cũng khá nổi tiếng, nhứt là trong phong cách cải lương Hồ Quảng.

Lạm bàn

Thường người ta phân loại ra ba loại tuồng cải lương: xã hội, dã sử và Hồ Quảng. Tự Ðiển Mở Wiki gọi “cải lương Hồ Quảng” bằng một tên nữa là “cải lương tuồng cổ.” Cái tên nầy giúp người ta hiểu được tổng quát về nội dung của loại hình nghệ thuật trình diễn nầy. “Cải lương Hồ Quảng” cũng là cải lương, nhưng tuồng tích dựa vào những tuồng cổ, mà thường là tuồng cổ Tàu.

Nhiều người cho là nó không thuần Việt và hoàn toàn Tàu, mình thì không đồng ý quan điểm trên. Rõ ràng có sự vay mượn nhưng hoàn toàn mang một sắc thái riêng. Có thể nói đây là loại hình cải lương có nguồn gốc phức tạp từ cải lương Nam Kỳ, hát bội, Kinh kịch, kịch Quảng Đông, võ thuật, nhạc Đài Loan… Tuy nhiên, qua cách trình diễn của các nghệ sĩ An Nam, tất cả các loại hình nghệ thuật nầy phối hợp nhuần nhuyễn với nhau, tạo thành một sắc thái riêng. Khán giả thưởng thức một vở tuồng diễn theo lối cải lương Hồ Quảng nhìn thấy ngay là nó rất Việt Nam, không lẫn với ca kịch Trung Hoa được. Ðó là cái tài của người nghệ sĩ, mà đó cũng là cái đặc thù của văn hóa Nam Kỳ, đón nhận cái của người, nhưng biến hóa nó, thăng tiến nó để nó hay hơn, đẹp hơn mà lại có tính chất Việt Nam.

Lương Sơn Bá- Chúc Anh Đài

Tích Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài về nàng Chúc xinh đẹp cải nam trang đến Nghi Sơn học tập, vô tình cờ gặp gỡ một thư sinh thật thà là Lương Sơn Bá. 3 năm học hành với nhau, Chúc sanh tình với họ Lương nhưng Lương Công tử hoàn toàn không nhận ra. Ngày chia tay, Chúc hứa sẽ mai mối em gái cho Lương. Khi Lương đến thì mới biết người con gái đó chánh là Chúc Anh Đài.

Tưởng chừng đến được với nhau, nhưng họ Chúc đã được phụ mẫu hứa gã cho Mã Văn Tài cũng là đồng môn hồi ở Nghi Sơn. Phiền muộn, Lương Sơn Bá qua đời khi đương nhiệm quan tri huyện. Ngày rước dâu ngang qua mộ chàng Lương, bỗng cơn cuồng phong nổi lên, mộ phần Lương Sơn Bá mở ra và Chúc Anh Đài đi vào trong đó. Sau đó, từ trong mộ, một đôi bướm rất đẹp quấn quýt bên nhau và cùng bay đi, bên nhau hạnh phúch.

Tuồng cải lương

Mình coi tuồng nầy lần đầu do Phượng Mai diễn hồi còn truyền hình đen trắng, giờ kiếm lại video đó thì không hấy nữa. Cũng nói thêm, trong các nghệ sĩ cải lương thì Phượng Mai được mệnh danh là Hồ Quảng chi bảo. Mình nhớ hoài một giọng ca thanh trong, một vóc dáng nhỏ nhắn, một gương mặt thanh tú . . . tất cả đã tạo nên một Phượng Mai tài sắc vẹn toàn, một nét riêng không lẫn với bất kỳ nghệ sỹ nào.

Coi Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài dễ thấy nhứt sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cải lương nguyên thủy, ca kịch Quảng đông kết hợp vũ đạo và nhạc truyền thống Nam Bộ.

Dưới đây là trích đoạn hay lúc Lương Chúc tạn mặt và kết nghĩa huynh đệ, tên đường  đến Nghi Sơn. Lớp diễn cũng khá hay với tài ứng biến và tung hứng của Vũ Linh và Kim Tử Long.

 

Coi lợi lớp hát “Giọt máu chung tình”

“Giọt máu chung tình” ban đầu là một tiểu thuyết hoa tình của Tân Dân Tử được ấn bản lần đầu ở Sài Gòn hồi những năm 1920. Với câu chuyện về tình yêu của Võ Đông Sơ và Bạch Thu Hà. Tiểu thuyết nầy sau được các soạn giả cải lương chuyển thể thành các tuồng hát, mà nổi tiếng nhứt có lẽ là tuồng “Giọt Máu Chung Tình” của đoàn Bạch Công tử Lê Công Phước George với cô đào Phùng Há trong vai Võ Thu Hà.

Nhiều bạn cứ nghe qua Võ Đông Sơ Bạch Thu Hà qua vài câu hát hay cất lên lúc trà dư tửu hậu trong bản vọng cổ Võ Đông Sơ của soạn giả Viễn Châu “biên cương lá rơi Thu Hà em ơi….”, nhưng cũng không nhiều bạn biết rõ về thiên tình sử nầy.

Chuyện kể là…

Võ Đông Sơ là con của Hoài Quốc công Võ Tánh và công chúa Ngọc Du. Bạch Thu Hà là con quan Tổng trấn Tây Thành Bạch Công. Sau khi Võ Tánh tuẫn tiết, Võ Đông Sơ sống với người chú ruột miệt Bình Định luyện võ, ôn văn chờ dịp đền ơn vua trả nợ san hà. Lúc bấy giờ có giặc Tàu Ô đang hoành hành, triều đình mở khoa thi để chọn tướng tài dẹp giặc. Võ Đông Sơ ra kinh ứng thí. Trong thời gian lưu lại ở kinh kỳ, chàng làm quen với Triệu Dõng – một người con có hiếu “bán kiếm báu” nuôi mẹ. Cũng tại đây Võ Đông Sơ gặp phải sự đố kỵ tài năng văn võ và sự ganh tỵ của Bạch Xuân Phương – anh ruột của tiểu thư Bạch Thu Hà, là một công tử rất độc ác, bất tài, hãm hại Võ Đông Sơ nhiều lần suýt mất mạng nơi xứ lạ.

Trong một lần Võ Đông Sơ ra tay đánh bọn cướp cứu tiểu thư Bạch Thu Hà trên đường đi lễ chùa, đôi trai tài gái sắc đã phải lòng nhau. Dưới ánh trăng rằm, bên ngôi cổ tự, hai người đã thề nguyện chuyện trăm năm. Sau đó, Võ Đông Sơ thi đỗ võ quan được phong làm đô úy lãnh quân đi dẹp giặc quấy phá. Ở nhà, Bạch Thu Hà bị gia đình bắt phải lấy một tên bạn của anh trai Bạch Xuân Phương tên là Trần Xuân. Bạch Thu Hà bỏ trốn khỏi nhà, thân gái dặm trường phiêu bạt đi tìm người yêu Võ Đông Sơ. Trong cơn hoạn nạn, Bạch Thu Hà được Triệu Dõng và em gái Triệu Dõng là Triệu Nương cứu giúp thoát khỏi tay chủ sơn trại Nhứt Lang ép làm vợ.

Sau cùng, Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà lại được trùng phùng nhưng không lâu sau, biên ải có giặc xâm phạm, vua ban chiếu cử Võ Đông Sơ cầm binh lên Lạng Sơn đánh đuổi giặc xâm phạm bờ cõi. Nhiều trận đánh nhau ác liệt, Võ Đông Sơ bị tử trận. Trong phút giây hấp hối chàng không ngừng gọi tên Bạch Thu Hà và nhắn gởi ba quân báo hung tin cho nàng hay. Bạch Thu Hà đã khóc thảm thiết bên linh cữu Võ Đông Sơ và dùng gươm báu quyên sinh để giữ trọn chung thủy với người tình.

Đây là một lớp diễn chân phương, nhiều xúc động của cô đào Kiều Oanh trong phim Đất Phương Nam lúc Bạch Thu Hà chuẩn bị quyên sinh để giữ trọn lời thề. Phải nói thêm là Kiểu Oanh là cô đào được đào tạo ca diễn cải lương, nhưng cuối cùng lại chọn hài kịch làm nghiệp gắn bó. Giọng Kiều Oanh dầy, nhấn nhá rất chân phương nhiều cảm xúc.

Vĩnh biệt cô Út Bạch Lan

1ut12_647d6

“Đệ Nhứt Đào Thương” Út Bạch Lan tên thực là Đặng Thị Hai sanh 1935 ở Đức Hòa Long An, cha là ông nài ngựa Nguyễn Văn Chưa, mẹ là Đặng Thị Tư mần ruộng. Năm 1945 hai vợ chồng ông Chưa bỏ nhau, bà Tư dắt díu con gái về Chợ Lớn kiếm kế sanh nhai. Tại đây bà Tư cùng với mẹ ông Văn Vĩ làm chị em, Văn Vĩ bị mù nhưng có ngón đờn cũng thuộc loại “quỷ khốc thần sầu”, ở nhà má gọi cô con gái của mình là bé Út hay Út lùn. Năm 12 tuổi bé Út trốn mẹ dắt Văn Vĩ đi hát dạo kiếm tiền, anh mù đờn cô em gái ca, họ đi bộ từ Chợ Lớn xuống Vườn Chuối, qua cột cờ Thủ Ngữ, ở bến tàu rồi đóng đô ở chợ Bàu Sen.

Thời thập niên 1930 ở Sài Gòn trong giới đờn ca tài tử nổi danh cô Năm Cần Thơ, cô Năm Cần Thơ có biệt danh là Chim Họa Mi. Cô Năm mở đầu cho việc thâu dĩa BKA của Pháp ở Sài Gòn. Biệt danh Chim Họa Mi của cô Năm Cần Thơ có là khi cô ca bài vọng cổ Chim Họa Mi 20 câu của soạn giả Viễn Châu sáng tác cho cô ca trong quán Lệ Liễu. Sau đó cô Năm Cần Thơ mở quán ca nhạc Chim Họa Mi trong khu Đại Thế Giới.

Chính cô Năm Cần Thơ phát hiện giọng lạ ở cô bé hát rong tên Út ở ngoài chợ Bàu Sen rồi tìm đến mời cô bé về thâu dĩa một bài ca cổ, rồi đài phát thanh Pháp Á thâu giọng hát cô bé. Nhạc sĩ Jean Tịnh và ca sĩ Thành Công đã mời 2 người bạn nhỏ Văn Vĩ và bé Út tham gia ban nhạc Thành Công của đài phát thanh Pháp Á, đó là năm 1950.

Tại đây bé Út được đặt nghệ danh Bạch Lan, đài Pháp Á đặt Bạch Lan để đối chọi với cô Bạch Huệ lúc đó bên đài phát thanh quốc gia, bé Út xin giữ lại tên của mình, vậy là từ đó có Út Bạch Lan.

Út Bạch Lan có giọng ca thiên phú buồn rười rượi, giọng đồng pha thổ nghe thương cảm chơi vơi,cách lấy hơi nhẹ nhàng như đang nói chuyện .Từ ca cô Út Bạch Lan qua bên gánh hát đi từ vai quân sĩ, nữ tì rồi đào ba, đào nhì, đào nhứt, Út Bạch Lan lên đào chánh ở đoàn Thanh Minh Thanh Nga trong tuồng cải lương “Khi hoa anh đào nở” đóng cặp kép chánh Thành Được.

43-1433128379980

Út Bạch Lan có vô số biệt danh, từ đệ nhứt đào thương, nữ hoàng sầu mộng, vương nữ sương chiều,…. Nhưng dân Nam Kỳ quen gọi cô là “Sầu nữ Út Bạch Lan”, cô Út vừa qua đời ở tuổi 82

Lan Huệ sầu ai Lan Huệ héo
Lan Huệ sầu đời trong héo ngoài tươi

Huệ (cô Bạch Huệ) và Lan đều đã rời cõi tạm bay về Trời, bỏ lại sự ngậm ngùi cho người mộ điệu, có lẽ sẽ không bao giờ có được một Bạch Huệ, Bạch Lan trên đời này nữa đâu. Họ đều là “đệ nhứt”, mà đã là duy nhứt thì làm gì có cái thứ hai nữa.

Nam Xuân Nam Ai- Tô Huệ- Chức Cẩm Hồ Văn

Nam Việt

Thể điệu: Lý cây bông

Bông xanh, bông trắng rồi lại vàng bông, ơi người ơi!
Bông lê sao bằng bông lựu, ơi người ơi!
Rằng a ý a đố rằng, bông rồi lại mấy bông.
Rằng a ý a đố rằng, bông rồi lại mấy bông./.

Chắc trong chúng ta không ai không biết bản dân ca Nam Kỳ nầy, những câu ca gắn liền với tuổi thơ, từ những ngày bập bẹ biết hát ca.

Hoặc ở quê mình thì hay nghe câu nầy, nhứt là mấy buổi chiểu loa phóng thanh hay phát

Trăng lên soi sáng đồng ruộng miền quê, ôi Gò Công
Trăng lên cao càng soi rộng, ôi dòng sông.
Hàng cây trái sai trĩu cành. Khoe mình đẹp trước trăng.
Xuồng ai lướt xuôi theo dòng, trăng hoà cùng bóng em .

Trong sân khấu cải lương, điệu lý nầy cũng rất thường xuyên được xử dụng, coi một số video nhé.

Teaser bản vọng cổ- Mùi Quê

Hôm bữa có đăng một bài với nội dung là đương tập tành biên ca cổ- Tập tành biên ca cổ. Kết quả là có “fan hôm mộ” thâu âm rồi gởi bản thâu tạm dưới đây.

Nghe lợi có đôi chổ nghe chưa có mướt, chắc là chỉnh sửa lại câu chữ. Về bố cục , căn bản là mình khoái mấy bản ca cổ ngoài giai điệu chủ đạo của bản Vọng Cổ thì nên chèn thêm các điệu lý, bài bản vắn… Việc nầy làm người nghe đỡn “ngán”, không còn cảm giác bi thương khi nghe thể loại nầy.

Nói giỡn chứ có dịp sẽ biên lại, thâu bản đầy đủ để nghe thử coi sao. Nhưng mà bạn nghệ-sĩ cải-lương tương-đối-nổi-tiếng nầy đang đòi ký công tra, rồi chia catse nầy nọ. Thiệt là khó nghĩ cho người “soạn giả” nghèo 🙂

Mà cũng đang suy nghĩ “Bút danh soạn giả”, haha. Có ai có cao kiến gì không?

Ba bản Văn Giỏi

Ai mà có để ý đờn ca tài tử, cải lương thì chắc không xa lạ với Danh cầm Văn Giỏi cùng 3 bản nổi tiếng của ông, mà dân trong giới hay gọi nôm na là 3 bản Văn Giỏi: Phi vân điệp khúc, Đoản khúc lam giang và Vọng Kim Lang.

Năm 1976, dựa trên nền nhạc thang âm ngũ cung của âm nhạc cải lương, Nhạc sĩ Văn Giỏi (lúc này đương làm việc ở Đài tiếng nói Saigon) đã sáng tác hai giai điệu mới là Phi Vân điệp khúc và Đoản khúc lam giang. Kết hợp với âm hưởng của ca nhạc Huế và dân ca Nam kỳ, hai giai điệu trữ tình này lúc man mác du dương, lúc dịu êm sâu lắng nên nhanh chóng tạo hiệu ứng mạnh mẽ trong lĩnh vực cải lương. Sau đó, cùng với thầy đờn tranh Thanh Hải, ông cải biên lớp dạo đầu của giai điệu Vọng kim lang, dân ca Liên khu 5, làm nên một phong cách mới mẻ. Từ đó tới bây giờ, hầu hết các tác giả viết vọng cổ và kịch bản cải lương đều chú ý đến 3 giai điệu nầy để có thể đưa vào trong các sáng tác của mình. Ba bản nầy có thể xuất hiện ở nhiều tình huống, hoàn cảnh kịch, có khả năng kết hợp rộng trong hội thoại, đối thoại, độc thoại và xử dụng độc lập.

Điểm đặc biệt của 3 bản là các câu CHẦU- những khúc luyến thoắn để người đờn có thể khoe ngón đờn của mình.

Vọng Kim Lang- bản phối Phi Nhung- Thúy Nga Paris

Đoản khúc lam giang

Ba bản Văn Giỏi:

 

Từ Hán Việt trong cải lương

Ai mà thường nghe cải lương, đặc biệt là các tuồng tích cổ, tuồng tích Tàu.. sẽ rất thường hay băt gặp các từ Hán Việt. Có thể mình biết cái nó ám chỉ cái gì nhưng điển tích phía sau thì có thể không biết.

Sẳn dịp nay quởn, ngồi nhớ rồi biên lợi mấy từ ngữ liên quan đến đôi lứa, quan hệ gia đình mà các tuồng cái lương hay xử dụng:

Từ cải lương

Cắt nghĩa

Ý chỉ

Sắc cầm hảo hiệp/hợp Cầm là đờn cầm, có bảy dây; sắt là đờn sắt, có hai mươi lăm dây; hai cây đờn này phải đi đôi với nhau thì cung điệu nhạc mới hay Hòa hợp, hạnh phúc
Loan phụng hòa minh Chim loan chim phụng cùng hót đôi lứa hạnh phúc
Loan phiêu phụng bạc chim phượng chim loan tách rời tan tác chia ly, ly tán
Uyên ương là một loài chim nước, con trống gọi là uyên, con mái gọi là ương Đôi lứa
Yến oanh Chim yến, chim oanh. Hai loài này nhỏ nhắn bay lượn hót vang Đôi lứa đang vui vẻ, hạnh phúc
Trúc mai từ ghép tên cây mai và cây trúc Có đôi có cặp
Bạn loan Bạn là bè bạn, bạn hữu; loan là keo của chim loan, một loại keo rất chắc gắn bó keo sơn bền bĩ của vợ chồng
Châu Trần Châu Trần là hai họ thân thiết, và hay gã con cái cho kết hôn với nhau trong sử Tàu Hôn nhơn
Tham vàng bỏ ngãi Ngãi =nghĩa Tham sang phụ khó
Đá vàng Hai vật đá và vàng, tuổi thọ cao Ý chỉ sự sắc son chung thủy
Cô phòng Cái buồng chỉ ở được 1 người Chỉ đàn ông độc thân — Cũng chỉ người con gái chưa chồng, hoặc đàn bà goá.
Ba sinh Do chữ “Tam sinh” nghĩa là ba kiếp luân chuyển: kiếp này sang kiếp khác. Duyên nợ phải làm vợ chồng với nhau do số kiếp tiền định.
     
Phụng cầu hoàng Chim phượng trống tìm chim phụng mái Tìm kiếm một nửa
Tam tùng/tòng Là 3 nguyên tắc của giáo lý phong kiến Tàu (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử) Son sắt, chung thủy của đờn bà xưa
Thuyền quyên (phận gái) Thuyền Quyên là tên một cô gái học trò của Khuất Nguyên (tích Tàu), khi Khuất Nguyên hoạn nạn  chỉ có Thuyền Quyên một lòng hầu thầy vì nàng đã yêu Khuất Nguyên Người con gái đẹp nhưng lận đận trong tình yêu
Thân phụ (ba ruột), Kế phụ (ba ghẻ), Dưỡng phụ (ba nuôi), Nghĩa phụ (ba đỡ đầu)
Sanh/từ mẫu (mẹ ruột), kế mẫu (mẹ ghẻ), Dưỡng mẫu (mẹ nuôi), Thứ mẫu (vợ bé của ba), Nhũ mẫu (vú nuôi)
Bá phụ (bác), thúc phụ (chú), thẩm (vợ chú), tức (dâu), tế (rể), tẩu (chị dâu)

Tạm gác, bữa nào quởn nghe cải lương rồi biên tiếp.

Tập tành viết ca cổ

Ai có đọc qua blog nầy thì cũng biết là mình khoái đờn ca tài tử, cải lương, cổ nhạc. Mà chắc cũng không lạ nếu mình nói sẽ tập tành viết một bản nghe chơi. Ahihi

Nghe thì thấy dễ chứ đưa viết xuống biên thì quả thiệt không đơn giản chút nào. Làm sao để câu chữ có ý nghĩa, lại theo bài bản và tiết tấu là cả một vấn đề.

Bài ca đầu tiên tập tành biên, mình đặt tên là Mùi Quê. Xin nhá hàng mấy câu đầu, khi nào hoàn thiện sẽ nhờ người hát và chia sẻ rộng rãi.


MÙI QUÊ

điệu Khốc Hoàng thiên:

(gối đầu) Hôm nay một sáng mùa xuân, anh cùng em bước đăng…trình, về nơi chôn nhao cắt rốn, nơi mà mình cùng nhau khôn lớn. Nơi tuổi thơ mình êm ả trôi xa, nơi kỷ niệm đã đong đầy. Nơi có dòng sông nhỏ lao xao, cánh đồng khóm trúc cạnh mé ao. Nơi ta trải qua những tháng ngày cơ cực, nghèo tuy nghèo nhưng tình nghĩa bao la. Nay đi xa mới dịp trở về, ôi lòng đầy vấn vương. Ôi quê hương hai tiếng ngọt ngào, bao ngày đã đợi trông….

Vọng cổ:

(nói gối đầu) Nắm lấy tay nhau anh trước em sau ta cùng nhau quay về những ngày xưa yêu dấu, nơi tiếng mẹ đâu đó văng vẳng khúc ca dao bên hàng dừa xanh ngắt nghiêng bóng đong đưa đưa em vào giấc ngủ những trưa… hè. Nơi ấy thân thương dù đi đâu cũng trở về, thèm chút hương thơm của mùa lúa chín, đám lúa đốt đồng những làn khói trắng lan bay. Bóng những cây gòn soi xuống những dòng kinh, vẳng bên tai tiếng ai hát vang lừng. Mấy đứa tụi mình đâu có sợ nắng cháy da, cứ thoả sức hoan ca, dưới trưa hè chang chang nắng …

Bao năm qua cây gòn còn trơ trơ bóng, dẫu đã trải qua bao thế sự đổi dời. Mỗi độ hoàng hôn tắt hẳn ánh mặt trời hồng, cây gòn trơ mình in hình lên mặt nước, thân gầy gò cành lá đã trụi lơ. Đường vào nhà khói bụi mấy dãi bờ đê, bên bờ sông dải lúa mùa đang trỗ hạt. Dân quê mình đã qia bao ngày khó nhọc, để làm nên hình hài dáng vẻ làng quê ta….

Coi lợi tuồng cải lương: ĐƯỜNG GƯƠM NGUYÊN BÁ

“Trong buổi dạ yến do Sứ quân khoản đãi mừng chiến thắng. Thượng tướng Nguyên Bá đã tỏ tình cùng Thủy Cúc vì không biết nàng là hôn thê của thái tử Ngũ Châu. Biết được việc này, Ngũ Châu tìm đến tận tư dinh của Nguyên Bá toan giết chàng vì cho là mình bị sỉ nhục. Sứ quân đến kịp ngăn cản trận đấu và trừng phạt Ngũ Châu bằng cách buộc Ngũ Châu phải theo Thiền Sư Đông Sơn lên núi Triều Vân học đạo 3 năm.

Để thử lòng người mình yêu mến, sứ quân ra lệnh Nguyên Bá đưa Thủy Cúc lên núi Triều Vân thăm Thế tử Ngũ Châu rồi Ngài cải trang theo dò xét. Dịp đó sứ quân biết Ngũ Châu không học đạo mà chỉ luyện võ nên chưa sửa đổi tâm tính tiểu nhân, cho đến khi Ngũ Châu ra lệnh Nguyên Bá hủy họai nhan sắc Thủy Cúc thì Sứ quân xuất hiện trừng phạt cả hai thầy trò bằng cách buộc Thiền Sư Đông Sơn phải cắt thủ cấp Ngũ Châu. Con của Thiền Sư là Lâm Vũ tự sát để lấy thủ cấp cho Đông Sơn mang về kinh dâng nạp. Nơi đây, sứ quân buộc Đông Sơn phải cho Lâm Vũ thay Ngũ Châu nối ngôi Ngài, Đông Sơn đành chấp thuận và hẹn một năm sau. Sứ quân cũng ra lệnh tác hợp Nguyên Bá và Thủy Cúc, nhưng chàng không chấp thuận nên bị hạ ngục.

Một năm sau … Thiền sư trở xuống kinh đô báo tin Lâm Vũ đã chết. Sứ quân ra lệnh tha Nguyên Bá và yêu cầu chàng kế vị mà lo cho trăm họ. Bấy giờ, Nguyên Bá mới tiết lộ sự thật: Một đêm mưa năm trước, chàng đã bị kẻ gian ám hại, nhưng đã bị chàng chặt đứt một cánh tay, cũng nhờ vậy Nguyên Bá biết kẻ đó là Thế Tử Ngũ Châu. Chàng tin rằng sau một năm học đạo, Thế tử đã trở nên người xứng đáng để nối ngôi trời. Thiền sư Đông Sơn cũng nhìn nhận sự thật.

Sứ quân truyền ngôi cho Ngũ Châu rồi cùng Nguyên Bá ngao du sơn thủy. Còn Thiền Sư Đông Sơn trở về Triều Vân và yêu cầu đừng ai tới lui thăm viếng cho đỉnh non cao đừng vướng bụi kinh thành”

Tuồng nầy mình mới nghe gần đây và rất thích thú. Thích thú với nhân vật, cốt chuyện, tính nhân văn và cả ca diễn của các nghệ sĩ.

Hễ có sanh ắc là có tử, có trùng phùng ắc sẽ có phân ly, cuộc đời đâu có thay đổi chi…

Vẫn như thường lệ, Thanh Sang và Hồng Nga với hai vai phụ, quá xuất thần khi thể hiện tình cảm mẫu tử thiêng liêng và trọng trách của người giữ ngai vàng khi đứng trước lựa chọn giữa Triều cang và Gia thất. Hai vai diễn này về sau cũng có vài người ca diễn nhưng hoàn toàn không vượt được bản thâu ban đầu nầy.

  • Tuồng: Đường gươm Nguyên Bá
  • Tác giả: Hoa Phượng
  • Đạo diễn: Loan Thảo – Hoàng Việt
  • Cổ nhạc: Văn Giỏi
  • Nghệ sĩ: Minh Vương (Nguyên Bá), Thanh Tuấn (Ngũ Châu), Thanh Sang (Sứ quân), Hồng Nga (Sứ quân phu nhơn), Chí Tâm (Đông Sơn Thiền Sư), Thanh Kim Huệ (Thủy Cúc)…

NKKY- Tản mạn về cặp song loan trong nhạc tài tử

Trong âm nhạc cổ của Việt Nam, cặp song loan -song lang nhìn nhỏ xíu nhưng rất quan trọng.

Song lang-song loan là người Nam Kỳ gọi, chứ người Bắc gọi là cặp sênh, người Huế gọi là sênh tiền hay phách xâu tiền. Ban đầu nó chỉ là hai thanh tre già dùng để đánh nhịp, giữ nhịp và ngắt nhịp trong dàn nhạc.

untitled

Trong ca trù thì cô ca nương vừa ngồi hát vừa gõ cái sênh. Trong ca Huế thì cái sênh tiền có thêm mấy đồng xu kim loại nghe réo rắc. Vào Nam thì mấy ông sáng chế ra cái song lang dính với nhau.

Trong dàn nhạc tài tử hay cải lương thường khi song lang giao cho nhạc sĩ đờn Kìm.Cái song lang nằm dưới chưn của ổng, vừa đàn ổng vừa đạp nhịp. Trước khi vào hát thì dàn nhạc sẽ hòa đờn lên gọi là rao. Khi các cây đờn trong giàn đờn chấm dứt rao, thì ông đờn kìm cho một tiếng cốc của song lang tức là ra dấu hiệu bắt đâu vào bài. Khi gần kết thúc bài bản nào đó, nhạc sĩ cũng sẽ nhịp thúc song lang 2 cái để ra dấu cho ca sĩ biết mà canh dứt bản nhạc,

Trong suốt buổi hòa đờn hay buổi hát, chúng ta sẽ nghe nhiều tiếng cốc cốc nữa, tiếng mộc của song lang làm nổi bật câu đàn, nếu không thì câu đàn nghe khô khan.

Cặp song lang đã đi vào đạo Cao Đài thành cặp sanh. Cặp sanh thế cái chuông cái mõ trong tụng kinh của Cao Đài nó ngắt nhịp. Trong dàn đồng nhi đọc kinh của đạo Cao Đài sẽ có một cô cầm cặp sanh là hai miếng cây khô đứng đầu, cô này giữ nhịp cho dàn đồng nhi tụng kinh. Kinh Cao Đài theo hơi xuân và ngắt nhịp 2 (và 4), cứ hết 2 câu là cổ gõ cái cốc, nói chung giữ nhịp lên xuống rất chắc.

Phong Việt