NKKY- Tản mạn về cặp song loan trong nhạc tài tử

Trong âm nhạc cổ của Việt Nam, cặp song loan -song lang nhìn nhỏ xíu nhưng rất quan trọng.

Song lang-song loan là người Nam Kỳ gọi, chứ người Bắc gọi là cặp sênh, người Huế gọi là sênh tiền hay phách xâu tiền. Ban đầu nó chỉ là hai thanh tre già dùng để đánh nhịp, giữ nhịp và ngắt nhịp trong dàn nhạc.

untitled

Trong ca trù thì cô ca nương vừa ngồi hát vừa gõ cái sênh. Trong ca Huế thì cái sênh tiền có thêm mấy đồng xu kim loại nghe réo rắc. Vào Nam thì mấy ông sáng chế ra cái song lang dính với nhau.

Trong dàn nhạc tài tử hay cải lương thường khi song lang giao cho nhạc sĩ đờn Kìm.Cái song lang nằm dưới chưn của ổng, vừa đàn ổng vừa đạp nhịp. Trước khi vào hát thì dàn nhạc sẽ hòa đờn lên gọi là rao. Khi các cây đờn trong giàn đờn chấm dứt rao, thì ông đờn kìm cho một tiếng cốc của song lang tức là ra dấu hiệu bắt đâu vào bài. Khi gần kết thúc bài bản nào đó, nhạc sĩ cũng sẽ nhịp thúc song lang 2 cái để ra dấu cho ca sĩ biết mà canh dứt bản nhạc,

Trong suốt buổi hòa đờn hay buổi hát, chúng ta sẽ nghe nhiều tiếng cốc cốc nữa, tiếng mộc của song lang làm nổi bật câu đàn, nếu không thì câu đàn nghe khô khan.

Cặp song lang đã đi vào đạo Cao Đài thành cặp sanh. Cặp sanh thế cái chuông cái mõ trong tụng kinh của Cao Đài nó ngắt nhịp. Trong dàn đồng nhi đọc kinh của đạo Cao Đài sẽ có một cô cầm cặp sanh là hai miếng cây khô đứng đầu, cô này giữ nhịp cho dàn đồng nhi tụng kinh. Kinh Cao Đài theo hơi xuân và ngắt nhịp 2 (và 4), cứ hết 2 câu là cổ gõ cái cốc, nói chung giữ nhịp lên xuống rất chắc.

Phong Việt

Coi lợi tuồng cải lương NÀNG HAI BẾN NGHÉ

Nàng Hai và Tri yêu thương nhau nhưng vì hoàn cảnh éo le nàng phải nhận lấy lãnh binh Sắc làm chồng. Một lần thua trận, Sắc bị quan trên khiển trách, sẵn mang tâm trạng buồn bực, nên khi nghe quân mật báo việc Tri thường có cử chỉ thân mật với vợ mình, Sắc rất ghen tức. Một hôm Sắc cho người giả danh vợ mời Tri tới nhà bàn công việc gắp. Khi hai người gặp nhau, Sắc rời khỏi nơi ẩn nấp bước ra tri hô, ghép họ vào tội lăng loàn và cho lính đóng bè thả trôi sông cả hai người.

Một hai hôm sau viên quan ba Barbé, đóng binh ở chùa Khải Tường đang đi săn, bất ngờ gặp một bè chuối trôi trên đó có một người đàn ông và một người đàn bà. Theo dòng, hai con sấu lớn hung hãn, quẫy đuôi bám riết đuổi theo bè. Barbé liền nổ súng, sấu sợ hãi lặn trốn mất. Khi bè được vớt lên, người con trai tức Tri bị sấu cắn cụt mất một chân, đã chết. Phần người con gái là nàng Hai còn thoi thóp thở. Sau khi được chăm sóc, thấy cô trẻ đẹp nên Barbé ép cô phải chung sống với mình. Nàng Hai ưng thuận với điều kiện là được trở về nhà để thu xếp việc riêng.

Gặp nàng Hai về, Lãnh binh Sắc cho bắt cô với lời cáo buộc: tội thông đồng, mãi dâm với đối phương. Sắc cho giam nàng Haai dưới hố sâu, cho ăn xương cá và cơm hẩm. Thời may Trương Định đi tuần ngang, lệnh cho đem cô lên và nghe hết mọi chuyện oan trái này…

Nơi chùa Khải Tường, hôm đó trời vừa sụp tối, nghe lính canh báo tin có Nàng Hai đến xin gặp. Barbé mừng rỡ phóng ngựa ra đón. Còn cách cô gái chừng mười thước, quân Việt mai phục hai bên đường ào ra. Ngựa bị giáo dài đâm ngã quỵ, hất Barbé ngã xuống và lập tức bị chém chết. Hôm đó là ngày 7 tháng 12 năm 1860.

Hơn hai tháng sau, viện binh của Pháp từ Thượng Hải kéo đến Sài Gòn rầm rộ. Sau vài trận chiến ác liệt, đại đồn Chí Hòa bị hạ. Sau những ngày mịt mù khói lửa ấy, không ai tìm thấy cô gái nơi đâu, chẳng biết sống hay đã chết. Nhưng trong dân gian còn truyền tụng mãi hình ảnh người thiếu phụ bị thả trôi sông và đã góp công chống Pháp.

–       Viên sĩ quan Barbé chết, quân Pháp rất tức giận. Bởi vậy, họ chiếm lấy tấm bia đá (trên có khắc bi văn của Phan Thanh Giản soạn năm 1858) do vua Tự Đức sai chở từ Huế về Gò Công, để dựng nơi mộ ông ngoại mình là Đức Quốc công Phạm Đăng Hưng (lăng hoàng gia ở bài viết trước), làm bia mộ Barbé ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi (cũ). Mãi cho đến năm 1999, tấm bia mới được dựng tại mộ ông Hưng, tính ra tấm bia đá mang tên hai người chết một Pháp một Việt này đã luân lạc đúng 140 năm (1859-1999).

–       Chùa Khải Tường là một ngôi cổ tự, trước đây tọa lạc trên một gò cao tại ấp Tân Lộc, thuộc Gia Định xưa; nay ở khoảng khu vực Bảo tàng Chứng tích chiến tranh, Sài Gòn. Năm 1858, khi Pháp chiếm Sài Gòn, Đại úy Thủy quân lục chiến Pháp tên Barbé nhận nhiệm vụ dẫn quân vào chiếm giữ. Barbé cho đem tượng Phật bỏ ngoài sân, cưỡng bức các sư phải rời chùa.

–       Thời gian sau nữa, trên nền chùa bỏ hoang này, Pháp cho xây cất một dinh thự dành cho quan chức trong bộ máy cai trị. Trước năm 1963, dùng làm Trường Đại học Y dược. Sau khi chế độ của Tổng thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ, các tướng lãnh cho các cố vấn quân sự đến trú đóng.

–       Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, cơ sở trên được dùng làm Bảo tàng Chứng tích chiến tranh.

 

Coi lợi tuồng cải lương “THÁI HẬU DƯƠNG VÂN NGA”

Thiệt sự mình thích mỗi lần coi lại môt tuồng tích cải lương nào đó, mình lại tìm đọc thêm về câu chuyện, lịch sử, bối cảnh của nó. Chẳng có cái thú nào bằng.

THÁI HẬU DƯƠNG VÂN NGA.

Dẹp xong loạn 12 sứ quân và thống nhất đất nước sau 1.000 năm Bắc thuộc, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi lấy hiệu Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư, Ninh Bình. Đây là nhà nước mở đầu cho nền độc lập của nước ta để sau này có những nhà nước và triều đại hùng mạnh Lý, Trần, Lê… Chỉ tiếc là ông qua đời quá sớm với cái chết oan khuất, để lại vợ và con trong rối ren chính sự. Đinh Toàn lên ngôi lúc 6 tuổi, Thái hậu Dương Vân Nga nắm quyền nhiếp chính. Chẳng bao lâu, bà trao long bào cho Thập đạo tướng quân Lê Hoàn. Ông lên ngôi, lấy hiệu là Lê Đại Hành, lập nên nhà Tiền Lê, đánh tan giặc Tống xâm lược.

Sự lựa chọn và quyết định của Dương Văn Nga trong hoàn cảnh quốc gia bấy giờ đã biểu hiện thái độ chính trị sáng suốt của một người có khối óc lớn, xứng đáng được coi là anh hùng. Nếu Dương Văn Nga không biết đặt lợi nước lên trên quyền lợi của dòng họ, bà có thể ngoan cố bảo vệ ngai vàng cho con nhỏ của mình, sẽ gây ra nạn tranh giành, đẩy đất nước vào thảm cảnh rối loạn và kết cục là bị mất nước bởi Tống trào.

_DSC0035

Đền Lê Đại Hành thờ Lê Hoàn và Dương Hoàng Hâu ở Ninh Bình- 2012

Tuồng Thái Hậu Dương Vân Nga này là vở mình thích nhứt trong các bản dựng. Bạch Tuyết qúa xuất sắc trong một Dương Vân Nga quá trẻ, chồng chết, con bị bắt cóc, giặc Tống gửi thơ uy đáp, quan lại trong trào người chủ chiến người chủ hòa, người dòm ngó ngai vàng, chuyện nhà chuyện nước rối ren quá sức. Cho nên, tựa vào Lê Hoàn là lẽ tất nhiên của tâm lý. Trong kịch bản không thể hiện tình yêu của hai người, chỉ thấy giữa Dương Vân Nga và Lê Hoàn có một mối đồng cảm rất lớn, là quyết không đầu hàng giặc Tống. Lý tưởng cao đẹp vì dân vì nước đã đưa hai người đến gần nhau, sau này không ngạc nhiên khi Dương Vân Nga trở thành vợ của vua Lê.

Ở Bạch Tuyết, cái thần toát lên từ dáng đứng, bước đi chính là vì trong mỗi động tác di chuyển là sự kết hợp giữa trình thức ước lệ và tâm lý nhân vật một cách nhuần nhuyễn, tài hoa. Về sau coi trên báo mình biết thêm, ở vai này cánh tay Bạch Tuyết chưa bao giờ “chỉ xuống” để thể hiện cái thần thái uy phong của người đứng đầu hậu cung đương nhiếp chánh trào cang , lợi hại.

Thanh Sang trong vai thập đạo tướng quân rõ ràng chinh phục được khán giả. Ông nắm 10 đạo quân, ngày đêm miệt mài ở quan ải, vất vả biết bao, vậy mà khi kinh thành biến động thì ông phải vội vã chạy về để cùng Thái hậu bàn việc nước. Một người trụ cột như thế thử hỏi làm sao Dương Vân Nga không tin cậy.

Hồng Nga thì bao giờ cũng là người làm mình thích thú mỗi khi cô cất giọng hát. Giọng trầm buồn của cô Nga trong vai Thái hoàng thái hậu ở tuồng Dương Vân Nga dằn xé, vừa cay nghiệt, vừa đớn đau. Vận nước tiên đế bao năm gâỳ dựng nay lại trao tay người ngoại đạo, nổi đau đớn nào sánh bằng?

Coi lợi tuồng cải lương “NỬA ĐỜI HƯƠNG PHẤN”

Tùng và người anh Hai Cang mồ côi tía má  từ nhỏ nên được ông bác đem về nuôi. Đến tuổi trưởng thành, Tùng được giao trông coi một cửa hàng bán đồ điện ở Saigon. Tùng gặp một kỹ nữ giang hồ tên Hương, họ yêu nhau say đắm, nhưng bác và anh Hai Cang phản đối vì chuyện tình nầy ảnh hưởng đến gia phong lễ giáo của gia đình. Tùng nhất quyết sẽ làm lễ thành hôn với Hương.

Lúc đến nhà Hương ở trọ để báo hỷ sự, Tùng gặp Định. Đó là một tay “điếm đàng”, Định dọa sẽ cho gia đình của Hương ở dưới quê biết sự thiệt về cuộc đời “son phấn” của Hương với mưu đồ giữ Hương trong tay của hắn, không cho Hương được lấy Tùng. Hương nuốt nước mắt phải chia tay với Tùng bằng một bức thơ tuyệt tình. Hương giã bộ đóng kịch cho Tùng biết cô đã lấy chồng là Định. Thấy vậy, Tùng bằng lòng đi lấy vợ theo sự dàn xếp của Hai Cang.

Hương về quê nhưng không may bà chủ nợ Hai Lung mò tới, nói cho bía má cô biết Hương là gái giang hồ làm đĩ ở Saigon, tía cô giận quá đuổi cô đi. Lên Saigon, Hương tìm đến Tùng. Đến lúc nầy, anh Hai Cang mới tiết lộ chánh anh đã năn nỉ Hương xa lánh Tùng. Hương đã âm thầm hy sanh để cho Tùng khỏi mang tội bất hiếu. Một bất ngờ khác, Diệu (vợ Tùng) chánh là em ruột của Hương (ở dưới quê, tên thiệt của Hương là The).

Đau đớn tột cùng, Hương xuống tóc đi tu, khép lại vĩnh viễn quãng đời cay đắng. Lúc nầy Tùng đến chùa xin Hương tha thứ, má và em của Hương khóc lóc, xin Hương hoàn tục, nhưng Nửa Đời Hương Phấn đối với Hương đã là dĩ vãng. Hương ngậm ngùi chôn thân trong chiếc áo nâu sòng mãi mãi…

“Số phận con đã không may
Kiếp hoa tàn héo, đọa đày truân chuyên.
Tóc xanh gởi lại mẹ hiền
Đời con khép kín cửa Thiền từ đây”

——————————————————————————————————————————————

– Một lần nữa bộ tứ các nghệ sĩ Bạch Tuyết, Lệ Thủy, Minh Vương, Diệp Lang quá xuất sắc trong mấy vai chánh, Bảo Quốc, Kiều Mai Lý cùng Thanh Tòng cùng nhau tung hứng trong mấy vai thứ khá duyên dáng, và cô Hồng Nga thì không thể nào chê được với vai bà má nghèo thương con cái và nhẫn nhịn trước tánh gia trưởng của chồng, rất “gặc” Nam Kỳ.

– Mình không có dịp được coi bản dung trước với Thanh Nga Thanh Sang, hay Út Bạch Lan Thành Được. Tuy nhiên khi nghe lại thì mình vẫn không cảm được, có thể do không có phần hình ảnh nên ấn tượng của mình không mạnh bằng với bản dựng mới, mặc dù các thế hệ trước hát rất mùi.

– Khi nhắc tới Nửa Đời Hương Phấn, dân đờn ca tài tử thường hay móc đoạn Phụng Hoàng lúc Tùng gặp lại cả hai chị em The và Diệu, mà hát lúc trà dư tửu hậu…

Dù biết em thành hôn với ai đi nữa thì chị cũng ráng về với…
… Em… Để mừng ngày em xuất giá,
Cho vui lòng ba với má,
Chị cũng nở mặt nở mày với lối xóm bà con.
Còn Dượng Ba đây là một thanh niên có học thức, lại đàng hoàng,
Chị vô cùng sung sướng thấy em có một tấm chồng đúng như lòng chị ước mong.

Hay đoạn Kim Tiền Huế lúc tía con The đang dằn co nhau khi biết The là gái giang hồ ở Saigon

Tía: Không có cha con gì hết! Người nói chuyện với tao, tuy là xác con…
The,… nhưng là hồn của con Hương. Trước kia mày là đứa con gái đàng hoàng,
Nay mày lại đi làm bại hoại gia phong, lễ giáo nhà tao.
Tao cũng tin mày đi làm ăn chơn thật. Chớ tao đâu có dè mày đem tiết trinh đi bán cho người ta để nuôi mẹ cha. Trời ơi! đồ cái quân mất dạy. Đừng léo hánh về đây, để làm nhục tổ tong!

Hương: Con cúi đầu trăm lạy ba…
Tía: Thôi, thôi, mày đừng có lạy lục mà chi. Cho tao thêm tổn thọ.
Hương ư: Xin ba nhìn nhận con là con The. Cho con ở lại, sớm hôm hầu cha mẹ…

Coi lợi tuồng cải lương “ĐỜI CÔ LỰU”

Lựu là vợ Hai Thành, một tá điền của Hội đồng Thăng. Thấy Lựu có nhan sắc nên Hội đồng muốn đoạt cô làm vợ. Hội đồng Thăng lập mưu bỏ súng lục vào nhà Hai Thành rồi báo cảnh sát đến bắt vì tội làm quốc sự. Kết cục Hai Thành bị án tù hai mươi năm, đày đi Côn Đảo biệt xứ, tài sản bị tịch biên và Lựu trở thành vợ Hội đồng Thăng.

Lúc nầy Lựu đã có mang thai với Hai Thành. Khi đứa nhỏ được sinh ra thì Hội đồng Thăng giấu nó đem cho cô nhi viện và nói dối là bị chết. Lựu sau có với Hội đồng Thăng một đứa con gái tên là Kim Anh.

Các bà con tá điền rất thương Hai Thành, trong đó có vợ chồng ông Hương. Ông Hương biết Hội đồng Thăng là chủ mưu hãm hại Hai Thành. Đứa con trai của Hai Thành mà Hội đồng Thăng đem bỏ vào cô nhi viện được ông bà Hương bí mật xin về làm con nuôi, đặt tên là Võ Minh Luân.

Sau 19 năm ở Côn Đảo, Hai Thành vượt ngục về tìm vợ con. Gặp ông bà Hương, anh biết rõ mọi chuyện. Căm giận vì cho rằng Lựu phụ bạc, anh viết một bức thư buộc Lựu trong vòng ba ngày phải lo 10 ngàn đồng để anh thu xếp việc học hành, sinh cơ lập nghiệp cho Minh Luân, còn anh sau sẽ trốn đi biệt tích. Nếu tiền không có đúng hạn thì anh sẽ có cách báo thù. Hai Thành trao thư cho Minh Luân đem tới cô Lựu.

Nhận được thư, Lựu vừa mừng, vừa lo, vừa xót xa cho chồng cho con. Lựu thấy khó xử vì không biết làm cách nào có được 10 ngàn trong ba hôm, vì cô chẳng có quyền hành gì trong nhà Hội đồng Thăng. Kim Anh thương mẹ nên đem đồ tư trang đi cầm. Để kín chuyện, Kim Anh mua đồ tư trang giả thay vào. Tới ngày hẹn, Minh Luân đến. Sau khi biết tình cảnh của mẹ và em, Minh Luân cự tuyệt, không nhận số tiền.

Chẳng ngờ chồng Kim Anh đã biết chuyện vợ cầm đồ tư trang nên nghi vợ ngoại tình. Giờ thấy vợ nói năng thân mật với Minh Luân nên anh ta cho rằng Minh Luân là tình nhân của vợ. Thấy trong túi Luân có phong thư (của Lựu gửi cho Hai Thành) anh ta đòi xem. Luân không chịu đưa nên bị anh ta rút súng bắn trúng bắp chân.

Minh Luân được đưa vào bệnh viện điều trị. Cô Lựu đến thăm con, gặp Hai Thành. Sau khi nghe Lựu giãi bày, Hai Thành hiểu được nỗi khổ tâm của vợ. Đúng lúc đó, Hội đồng Thăng cũng tới, nhận ra Hai Thành nên sai tài xế đi báo cảnh sát. Minh Luân căm thù, xông tới đâm chết Hội đồng Thăng.

Vở cải lương kết thúc bằng bi kịch, Kim Anh phát điên. Cô Lựu cho rằng mình là nguyên do mọi tội lỗi nên nguyện cắt tóc đi tu để sám hối.

—————————–

– Tuồng này được sọan giả Trần Hữu Trang sọan năm 1936, một trong những tuồng tiêu biểu của Cải lương Nam Kỳ trước 1945. Vở cải lương kể về số phận đau khổ và éo le của cô Lựu dưới xã hội phong kiến, thực dân mà cô là một nạn nhân của xã hội lúc bấy giờ, cũng như nỗi khổ của người nông dân ở các vùng quê Nam Kỳ nói chung.

– Đối với mình thì khoái bản dựng của đoàn Trần Hữu Trang như trong clip bên trên. Đặc biệt thích cách diễn của bộ tứ Lệ Thủy, Bạch Tuyết, Thanh Sang, Diệp Lang. Ngoài ra còn một dàn bao thượng thừa với Minh Vương, Bảo Quốc, Ngọc Giàu và đặc biệt cô Hồng Nga trong vai bà Hai Hương. Cách diễn quá Nam Kỳ của bà Hai Hương Hồng Nga không lẫn với ai được mặc dù chỉ xuất hiện trong 1 màn. Trước Hồng Nga, có cô Ngọc Giàu cũng từng diễn qua vai nầy tuy nhiên cô không toát lên vẻ khắc khổ, tánh khảng khái của dân Nam Kỳ như cách diễn của cô Hồng Nga. Bù lợi, tuồng nầy cô Ngọc Giàu cũng rất thành công với Cô Bảy Cán Vá mà tới giờ chưa ai thay thế được.

– Từ khi biết coi cải lương và biết tới cô Hồng Nga thì mình chưa bao giờ thôi thích cô đóng những vai đào mụ. Mình luôn muốn xem lại và xem mãi mãi cô Hồng Nga trong vai mẹ của Hương trong Nửa đời hương phấn, vai mẹ Điệp trong Lan và Điệp, vai bà Hai Hương trong Đời Cô Lựu và vai mẹ Diệu trong Lá Sầu Riêng… đó là những bà mẹ Nam Kỳ, suốt đời sống cho chồng con, bao nhiêu nước mắt khóc cho thân phận bọt bèo của những đứa con hay bao nhiêu đắng cay đã nuốt trọn cho hạnh phúc của chồng con….

– Bên cạnh đào mụ, thì cô cũng rất duyên dáng trong các vai hài hoặc pha hài. Có thể đó là vì kế mưu sinh trong giai đọan cải lương khủng hoảng nhưng không phải ai cũng duyên dáng được như cô. Ngoài ra cũng nên nói đến những vai đào độc mà lời đay nghiến rành rạch trong từng câu nói, nhìn con mắt thôi đã phát sợ 🙁

– Cũng như những diễn viên gạo cội khác của sân khấu cải lương Nam Kỳ, cô cũng lận đận với cái mấy cái danh hiệu ảo …

Nói chung thì chưa bao giờ thôi thích cô Hồng Nga!

Thể điệu: NGŨ ĐIỂM – BÀI TẠ

NGŨ ĐIỂM MAI – TỌA NGỌC LẦU thường được gọi là NGŨ ĐIỂM BÀI TẠ, là hai bản vắn rất phổ biến trong truyền thống nhạc tài tử cải lương và thuờng đuợc hòa đờn chung với nhau.

Tên Ngũ Điểm Mai là từ Hán Việt diễn tả hoa mai năm cánh mang đến niềm vui rôn ràng tươi mát cho thiên nhiên, con người. Tọa Ngọc Lầu cũng là từ Hán Việt có nghĩa là ngồi trên lầu ngọc. Đây là hình ảnh thường thấy trong văn chương, hội họa và âm nhạc Á Đông. Bài nhạc diễn tả hình ảnh con người phong nhã thanh tao, tâm hồn thiền định, ngồi trên lầu ngọc thưởng ngoạn cảnh vật thiên nhiên tuyệt vời.

Thể điệu Ngũ Điểm – Bài Tạ có âm thanh rộn ràng tươi vui. Bài nhạc được viết theo hệ thống ngũ cung Hơi Quảng và hay đuợc xài để dạy mấy bạn mới học đờn ca tài tử căn bản, đây cũng là bản mình hay tập lúc mới biết đờn 😀

Trích Tây Thi

Trích Mộc Quế Anh

Còn đây là một bản đúng điệu tài tử, lời lẽ châm biếm rất vui 😀

 

Thể điệu: SƠN ĐÔNG HƯỚNG MÃ

Thể điệu SƠN ĐÔNG HƯỚNG MÃ nầy rất thường hay xuất hiện trong mấy tuổng hát cổ trang, còn những tuồng xã hội thì hình như không thấy (hoặc mình chưa từng coi qua). Bản này cũng rất ngắn và dễ đờn.

Trích tuồng Bao Công Phiên Phiên trả thù

Trích tuồng Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài

Điệu nầy thi thoảng cũng đựơc xử dụng để “gối đầu” để vô Vọng cổ thay cho câu nói lối hoặc ngâm thơ như trong bài Cô bán đèn hoa giấy (phút 04:40)

“Khói chinh chiến bay vùng lên, máu đổ đầu rơi
Em lìa quê tìm nơi bình an
Cùng cha mẹ ra ngoài thành thị
Nên mấy năm liền em không còn bán đèn”

Trích tuồng Vùng đất yêu thuơng

“Thiệt ngán ngẩm… bà giấu tui

Bằng lòng cho nó theo trai

Tui sầu đau bà cũng lặng thinh

Mầy nói gì vậy? Đồ mắc dịch

Tối ngày say lè nhè

Nhìn nó khổ, tao không đành

Bà xúi biểu nó bỏ tui

Ông trời ngó xuống mà coi

Mẹ chồng cho nàng dâu mình lấy trai

Mầy lớn giọng coi chừng bị nhục

Uống rượu như hủ chìm

Mà đòi vợ nó chung tình”

Trích tuồng Phạm Công Cúc Hoa

(Tào Thị)
Nó tinh quái hơn là yêu
Chúng nói dối em liên miên
Chúng đòi đi, lùa gà trâu ra đồng sâu
Không chịu học, chịu hành gì hết trọi
Hể quần áo rách, em may liền
Mà chúng bỏ nhà đi rồi

(Phạm Công)
Sao em đứng một thành hai
Ngực thấp, bụng cao


(Tào Thị)

Vậy chàng nghi rằng em đã thọ thai


(Phạm Công)

Vợ chồng cách biệt, mà nàng có thai được
Thật giỏi vô cùng, đồ bạo tàn, lăng loàn
.

Nghe lợi tuồng cải lương “BAO CÔNG TRA ÁN QUÁCH HÒE”

Gần đây mọi người có rần rần về một bộ phim Tàu về chuyện hậu cung với tỷ tỷ muội muội, hãm hãm hại hại hầm bà lằng – Võ Tắc Thiên. Mình không có thời giờ với lại cũng không hứng thú với thể loại nầy nên cũng không biết gì nhiều. Tuy nhiên làm mình nhớ tới một tuồng cải lương mà mình rất thích, cũng về chủ đề tranh giành quyền lực giữa mấy chị mấy mẹ hậu cung: Bao Công tra án Quách Hòe.

bia__80041

 

 

 

 

 

 

 

 

————-

Chế độ phong khiến phương Đông, dù ở Trung Quốc hay Việt Nam đều cho phép Vua được quyền có nhiều thê thiếp, đến mức hậu cung lên tới tam cung lục viện với Hoàng hậu, Hoàng phi, Thứ phi, Tài nhân… rồi hàng trăm cung tần, mỹ nữ….tuy đa số các triều Vua đều cấm hậu cung can dự vào việc triều chính, nhưng vẫn không tránh khỏi việc hậu cung ganh ghét nhau, tranh dành địa vị mà hãm hại nhau gây nên những vụ án long trời lỡ đất. Ly miêu tráo chúa hay Vụ án Lý Thần Phi là một vụ án khá phổ biến trên phim ảnh.

Chuyện kể vào lúc nhà Vua thân chinh dẹp giặc ngoài biên ải thì ở Hoàng cung cả Lưu hoàng hậu và Lý phi tần đều lâm bồn. Vì sanh con gái nên Lưu hoàng hậu đã lập mưu cùng với Thái giám Quách Hòe dùng xác một con mèo để tráo đổi hoàng tử hài nhi vừa được Lý phi sanh hạ mang đi thủ tiêu. May người tỳ nữ vì chữ Trung với vua và vì thiên chức làm Mẹ của người phụ nữ đã không nhẫn tâm giết chết một sanh linh bé bỏng vừa mới chào đời nên thay vì ném Hoàng tử xuống dòng sông chảy xiết, cô đã giao cho Trần Lâm thái giám tìm cách mang ra khỏi cung rồi thuyết phục Bát hiền vương bí mật nuôi nấng, sau trở thành Hoàng đế. Lưu hoàng hậu – Quách Hòe còn vu cho Lý phi tần cốt là ma quỷ nên mới sanh ra “quái thai ly miêu” để giam bà vô lãnh cung, vẫn chưa yên tâm nên họ đã hỏa thiêu lãnh cung để tận trừ hậu họa. Nhờ một cung nữ mật báo mà Lý hậu đã kịp thời nhảy xuống sông chạy thoát để 20 năm sau mới có cơ hội đưa vụ án ra ánh sáng qua tài xét xử của Bao công. Trong thời gian lưu lạc giang hồ, Lý phi tần đã nhận nuôi Hải Thọ trong lúc hai mẹ con Hải Thọ đang hấp hối vì bịnh dịch, hai con nguời lưu lạc đùm bọc nhau sống cuộc đời khổ sở cho tới ngày gặp đuợc Bao Công và minh oan cho vụ án 20 năm trước.

————-

Tuồng nầy không có thâu hình mà chỉ có thâu âm với các diễn viên: Mỹ Châu (Lý Thần phi), Minh Phụng (Quách Hòe), Minh Cảnh ( Bao Công), Bích Hạnh (Lưu Hòang Hậu), Thanh Kim Huệ (Quách Hải Thọ), Hồng Nga (mẹ Quách Hải Thọ), Thanh Tuấn …Đáng lưu ý là tuồng được diễn theo phong cách cải luơng Hồ Quảng nên có rất nhiều các thể điệu cũng như cách đờn hát kiểu Hồ Quảng.

Ấn tượng về các vai diễn trong tuồng nầy với mình và 3 cô đào Mỹ Châu, Bích Hạnh và Hồng Nga. Trong khi Mỹ Châu luôn u uất với giọng ca trầm buồn kỳ lạ cực kỳ mùi với cảnh phát hiện bị tráo ly miêu hay cảnh mẫu tử hội ngộ; thì Bích Hạnh lại làm mình vừa thuơng vừa tội, thuơng vì sự ích kỷ đã làm bà mù quáng, tội vì quá tàn nhẫn khi phân lìa mẫu tử. Cô Bích Hạnh chưa từng là cô đào nổi tiếng, nhưng với mình cô là nguời đóng các vai đào độc hay nhứt. Cô Hồng Nga thì thôi rồi, giọng cô luôn đặc biệt với mình, dù chỉ xuất hiện ngắn ngủi rồi hát trút hơi thở cuối nhưng đã truyền đuợc cái tình yêu thuơng vô bờ bến với con cái, da diết và truyền cảm.

Đối với các vai kép, mình không hiểu sao qua cách diễn của chú Minh Phụng, làm mình thương nhân vật Quách Hòe nhiều hơn hà, hehe. Chỉ vì tình yêu mà Quách Hòe ra nông nổi. Quách Hòe gây bao tội ác nhưng không phải để mưu cầu quyền lợi cho bản thân mà chỉ để người ông yêu được hạnh phúc với người khác trên ngôi vị quyền uy vững chắc, phần ông an phận và cảm thấy hạnh phúc với việc cúc cung tận tụy hầu hạ người yêu trong thân phận thái giám. Giờ cuối của cuộc đời, Minh Phụng diễn lớp ông cố nhận hết tội lỗi về mình để người yêu được thoát tội chết rất thống thiết.

Xét riêng về tình yêu thì Quách Hòe đáng khen ở tấm lòng chung thủy và sự hy sinh nhưng xét tổng thể thì ông thật đáng lên án bởi có lý trí hơn người mà yêu mù quáng, chỉ vì tình yêu của bản thân mà trở thành đại tội phạm, bất chấp sanh mạng của bá tánh. Hay hen 😀

 

Thể điệu: KIM TIỀN HUẾ

Bản đờn này là 1 trong 3 bản liên hoàn, gọi là Lưu Bình Kim (Lưu Thuỷ đoản, Bình bán vắn, Kim tiền Huế). Điệu đờn vẫn là ở tình huống đối đáp, kể chuyện lúc cao trào…

THỂ ĐIỆU: XANG XỪ LÍU – KHỐC HOÀNG THIÊN

Xang Xừ Líu – Khốc Hoàng Thiên là hai thể điệu được xử dụng khá phổ biến trong âm nhạc cải lương. Bài nầy thuộc về nhạc dân gian Trung Quốc đã thâm nhập nước ta từ lâu và được dân tộc hóa cả đờn lẫn hát.

Tính chất êm ái ,nhẹ nhàng khoan thai, tươi sáng , quyến rũ. Giai điệu rất đẹp , thích ứng với mọi giọng ca.

Xang Xừ Líu – Trích “Anh hùng Lương Sơn Bạc”

Khốc Hoàng Thiên- Trích “Bao Công Phiên Phiên trả thù”

Khốc Hoàng Thiên- Trích “Tây Thi”

PL: Nhị vị cô nương hãy đứng lên… đi, không có gì lầm lỗi, chính tôi mới cúi đầu sám hối. Dám xem thường nhi nữ Trữ La, trọn lòng trung yêu nước thương nhà.

TT: Tuy ở thôn nghèo nhưng đã hiểu qua, Ngô quốc xâm loàn gây cảnh xót xa. Tủi phận quần thoa bất tài kém lực, nghẹn tức khi nhìn sông núi tan thương.

ĐT: Biết phải làm sao chung lối chung đường? Nam nữ tận tường thọ thọ bất thân. Nắng đã lên cao nhà chẳng được gần, tạ từ lui về xin lỗi đại phu. ./