Quốc lộ 50: Đọc sử bằng cách đi đường (3)

Cần Đước

Ca dao Nam Kỳ có câu:

“Gạo Cần Đước, nước Đồng Nai
Ai về xin nhớ cho ai theo cùng”

Ngẫm mà vui,có cái xứ nào trong lịch sử sánh ngang với xứ Đồng Nai nhiều sản vật, gạo Cần Đước nổi tiếng bỏ vô nồi nấu với nước ngọt sông Đồng Nai thì số dzách. Cần Đước là một địa danh thuộc trường phái bắt đầu bằng chữ “Cần” trong Nam Kỳ lục tỉnh như Cần Thơ, Cần Giờ, Cần Giuộc…mà nếu tách chữ Cần đó ra thì không hề có ý nghĩa.

Biết chắc Cần Đước là xuất xứ từ tiếng Khmer rồi đó, có người nói Cần Đước là Anơơk tức là con rùa thì…chưa chắc đúng vì thực tế trong đời sống dân ở đây xưa giờ chưa thấy có con rùa tự nhiên nào trong vùng. Vậy Cần Đước là cái giống gì thì tới nay chưa có ai biết tỏ tường ?!?

Thời chúa Nguyễn,Cần Đước thuộc dinh Trấn Biên, chúa Nguyễn lập ở Nam Kỳ Cửu Khố – 9 trường biệt nạp tức trạm thâu thuế thì trên đất Cần Đước đã có 2 là Thiên Mụ, Cảnh Dương. Cần Giuộc, Cần Đước, Gò Công là ba vùng liền kề nhau, cùng làm “phên dậu” cho đất Gia Định Sài Gòn

Pháp qua,năm 1871 Cần Đước thuộc tỉnh Chợ Lớn. Cũng do người Pháp mà địa danh Cần Đước xuất hiện, năm 1923 Pháp dời trung tâm của đại lý hành chánh vùng từ Rạch Kiến về ngay chợ Cần Đước xưa, năm 1928 chánh thức lập quận Cần Đước tỉnh Chợ Lớn với quận lỵ đặt ngay làng Tân Ân, chợ Cần Đước.

Nói thêm về chợ Cần Đước xưa-có một cái làng ở ngay doi đất nhô ra ngã ba hai con rạch Ông Quỳnh và Bến Bà- lấy nước từ sông Bao Ngược –Vàm Cỏ, tên Cần Đước xuất phát từ cái chợ nầy, đối diện mặt chợ Cần Đước lúc đó là đình làng Tân Ân, sau đó lấy đình làm nhà việc của làng rồi xã, ngày nay là miếng đất trụ sở UBND thị trần Cần Đước.

Chợ Cần Đước xưa và nay

Trung tâm Cần Đước xưa rất dễ hình dung. Nhà việc làng -xã Tân Ân nằm đâu mặt chợ Cần Đước, cái đuôi chợ-khúc chợ cá thì nhìn thẳng qua bên đường lộ-tức Quốc Lộ 50 ngày nay- cách một khúc sông khá rộng hồi đó có cây cầu sắt gọi là cầu Chùa.

Từ Sài Gòn muốn vô dinh quận Cần Đước phải chạy qua cầu Chùa, trên cây cầu nầy đã nhìn thấy bên kia sông chợ Cần Đước rồi, chạy chừng vài trăm mét tới ngã ba nhà việc làng Phước Đông, có cái bến xe thì quẹo phải vô đường Nguyễn Khắc Tuấn (Nay là Nguyễn Trãi) chạy ngang qua khu nhà lầu Bà Sáu Chắt (Nay là ban chỉ huy quân sự huyện), cuối đường có một cây cầu sắt gọi là cầu Dinh Quận, qua cầu là thấy dinh quận, vô khu vực trung tâm chợ. Con đường độc đạo khi đó, dân các làng-xã Tân Ân, Tân Chánh, Phước Tuy muốn ra lộ cái đều phải đi đường nầy.

Sau 1975 ,để hạn chế thủy triều sông Vàm Cỏ lên xuống để ruộng lúa bên kia làng Tân Lân làm nhiều vụ người ta lấp ngang QL 50–xóa sổ Cầu Chùa, lấp luôn cầu Dinh Quận .Sau đó giải tỏa luôn chợ Cần Đước cũ, đắp một con đường từ chợ cũ thẳng ra QL 50 thành đường Trần Hưng Đạo ngày nay.

 

Cũng nên nhắc lại một cái vui vui,tháng 2 năm 1963 thời đệ nhứt VNCH TT Ngô Đình Diệm-tức là chỉ còn 8 tháng nữa là bị đảo chánh, ông Diệm vốn là người học Nho, thích phiên âm địa danh Miền Nam ra từ Hán Việt –ông đã biến chữ Cần Đước ra thành Cần Đức trong sự thảng thốt của dân Cần Đước. Cái tên Cần Đức có nghĩa tiêu cực, rất xấu mà là tên một quận, thành ra năm 1965 Cần Đước lại trở về.

Phong Việt

 

Quốc lộ 50: Đọc sử bằng cách đi đường (2)

Lần trước đã về tới Tân Kim, xuống xíu nữa là tới miệt Cần Giuộc.

CẦN GIUỘC

Cầu Cần Giuộc sẽ đưa chúng ta qua trung tâm, đây đất làng Trường Bình xưa. Chợ Cần Guộc ngày nay chính là chợ Trường Bình.

Đất Cần Giuộc xưa là nơi ông Nguyễn Ngọc Tương làm chủ quận nên có nhiều người theo đạo Cao Đài. Hồi sau ông Tương ly khai tòa thánh Tây Ninh lập ra Cao Đài ban chỉnh đạo nên một số thánh thất đã theo ông, đi ngang xứ nầy và xứ Gò Công bạn sẽ thấy thánh thất có ghi câu”Được sự ủng hộ của giáo tông Nguyễn Ngọc Tương” là biết Cao Đài ban chỉnh đạo. Hồi đó mình không để ý thì tưởng thánh thất nào cũng như nhau, nhưng thiệt ra là của nhiều bang phái khác nhau. Điều đó cho thấy thời đó đời sống tôn giáo ở Nam Kỳ rất là phong phú.

Thánh thất Trường Bình

Góc nhỏ Trường Bình

Ai mà học phổ thông thì chắc biết bào Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giộc của Đồ Chiểu. Bài văn tế được ông viết để ngợi ca, thương tiếc và kính phục những nghĩa quân đã anh dũng đứng lên chống Pháp ở Cần Giuộc vào năm 1861.

Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;
Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng lụy nhỏ

Cầu MỒNG GÀ

Chạy xuống đụng cầu Mồng Gà. Cầu Mồng Gà có tên trong văn Hồ Biểu Chánh

(Trích lời thề trước miễu) ” Trời gần sáng. Trong mấy xóm ở dọc theo khúc lộ từ cầu Mồng Gà lên chợ Cần Giuộc, gà gáy vang rân, tiếp nhau kêu nông phu thức dậy mà đi ra ruộng.

Bên hướng Đông trời giăng mấy cụm mây đen để áng mặt nhựt chưa cho lố lên; tuy vậy mà bên hướng tây vừng trăng khuyết treo lửng đửng trên không đã nhượng bước, nên phai lợt lu mờ, không còn tỏ rạng như hồi canh khuya nữa.”

Cầu Mồng Gà

Trong giới đờn ca tài tử có Bà Tư Cầu Mồng Gà, ái nữ nhạc sư Năm Tịnh. Cầu Mồng Gà chạy chút xíu đi qua Vĩnh Nguyên, vùng này có khu gò mả khá lớn, một thời có tiếng đi khuya nhiều người bị ma nhập, cho ăn bánh ít đất,  có Vĩnh Nguyên tự là nơi góp phần tạo ra đạo Cao Đài

CHỢ TRẠM

Bạn sẽ gặp một cái ngã tư chắn ngang gọi là ngã tư Chợ Trạm, trạm là nơi dừng ngựa, xưa triều Nguyễn dùng ngựa trạm chuyển công văn thư từ nầy nọ, ngựa chạy mấy chục cây số thì nghỉ, người ở trạm sau đó cứ chạy tiếp nên có cây cầu tên Chợ Trạm. Hồi lúc mình còn nhỏ mỗi lần đi ngang đây, để ý bên mé tay mặt có một cái nhà cổ rất là bự, mình đoán là nhà công chức hồi xưa. Cách đây chừng mấy năm thì thấy cái này bị đập nát, thay vô đó là cái nhà hiện đại chà bá lửa. Đúng là thời cuộc.

Chợ Trạm cũng là nơi Pháp xử tử ông Lãnh Binh Nguyễn Văn Tiến, nay có lăng mộ ông ở đây. Qua ngã tư 100 m,nhìn tay phải có con đường dẫn vào mộ ông Tiến. Mình chỉ nghe vậy thôi chứ chưa tới thăm viếng bao giờ, hy vọng sẽ có thời gian sắp xếp đi được.

Ngã Tư Chợ Trạm

Lãnh binh Nguyễn Văn Tiến sinh năm 1848. Năm 1883, trong một trận đánh ở Bình Đăng, bị bắt và bị xử chém vào sáng mồng 3 tháng 10 năm Quý Mùi (21/11/1883) tại Chợ Trạm năm 35 tuổi.

CẦN ĐƯỚC

Đất Cần Đước, Cần Giuộc xưa thuộc tỉnh Chợ Lớn, xưa hơn là thuộc Gia Định thành, vùng này sát Sài Gòn nên dân chúng qua lại rất nhiều, nó gắn với Gò Công thành một chuổi cho nên văn hóa dân gian, sinh hoạt cộng đồng có dính dáng bà con với nhau. Ví như vùng Mỹ Lệ tức Chợ Trạm, Chợ Đào có ông Ba Đợi, nhạc sư Nguyễn Quang Đại là hậu tổ của đờn ca tài tử Nam Kỳ, ông từ Huế vào Nam ở vùng Vạn Phước đã truyền dạy nghề đờn ca cho các đệ tử ở quanh vùng. Chung quanh Cần Đước, Cần Giuộc toàn đại đệ tử ông ba . Có câu “Nhứt Bạc Liêu nhì Cần Đước”, Bạc Liêu ca số 1, Cần Đước thì đờn số 1. Vang danh một thời!

Từ Sài Gòn chạy về ngã tư Chợ Trạm, nếu bạn quẹo trái sẽ về vùng Thủ Bộ, Chợ Núi , quẹo phải thì về Chợ Đào, Rạch Kiến. Nên nhớ gạo nàng thơm Chợ Đào là nổi tiếng nhứt Nam Kỳ lục tỉnh á nhen.

Từ Chợ Trạm chạy về sẽ gặp khu Nhà Dài, khu này xưa là vùng việt cộng, mấy ông bà xưa hay kể thời Việt Minh 45 , thậm chí thời VNCH thì Việt Cộng hay tràn ra lộ ban đêm đấp mô và phá đường, chạy qua tới Tân Lân, Tân Lân là làng khá trù phú hồi xưa có chùa Phước Lâm rất cổ, một làng có tới 5 ngôi chùa, địa danh Xóm Chùa là của Tân Lân

Về tới nữa là trung tâm quận lị Cần Đước. Hồi xưa có cây cầu sắt rất lớn bắt qua con rạch khúc chợ Cần Đươc ngày nay gọi là cầu Chùa, sau 1975 bị lấp mất, từ cầu nhìn qua bên phải sông là chợ và dinh quận. Vị trí chợ Cần Đước (cũ) rất kỳ lạ, nằm ở giữa cái doi đất ba bên là sông. Muốn vào thì từ Liên tỉnh lộ 50 phải quẹo vô đường độc đạo Nguyễn Khắc Tuấn (nay là Nguyễn Trãi, đã xóa tên ông Tuấn ) và qua một cây cầu sắt nữa. Năm 1923 Pháp dời quận lị Cần Đước về vị trí này cũng vì lý do an ninh.

Rạch qua chợ Cần Đước

Ông Nguyễn Khắc Tuấn (1767-1823) là thống chế triều Minh Mạng, dân Tân Chánh, nổi tiếng tiểu trừ thổ phỉ mạn Bắc Kỳ. Năm 1791 đầu quân theo Chúa Nguyễn Ánh và được phong là Cai Đội. Sau khi Gia Long thống nhất Nam Bắc, Nguyễn Khắc Tuấn được cử trông coi việc quân ở Bắc Thành, đến thời Minh Mệnh được phong chức Khâm sai, Chưởng cơ thống quản Trung quân trấn định thập cơ, tước Hầu. Năm 1822 trông coi đắp thành Hưng Hóa. Trong khoảng thời gian này, ông đã được triều đình cử làm tổng chỉ huy quân đội cùng với Trấn thủ Tuyên Quang dẹp giặc ở Lư Khê và đã được triều đình khen thưởng.

Năm Minh Mệnh thứ 4 (1823) Nguyễn Khắc Tuấn mất, được truy tặng Thống chế, phong là Nghiêm oai Tướng quân, Thượng hộ quân Thống chế, thụy là Tráng Nghị. Lăng mộ ông hiện nay kế bên đình Tân Chánh

Đất Tân Ân, Phước Tuy xưa có dòng họ Hồ, họ này có nhiều người có tiếng như Hồ Văn Ngà , sau này có ông việt cộng Hồ Văn Huê. Haha

Tạm hết phần 2

Phong Việt.