Ba bản Văn Giỏi

Ai mà có để ý đờn ca tài tử, cải lương thì chắc không xa lạ với Danh cầm Văn Giỏi cùng 3 bản nổi tiếng của ông, mà dân trong giới hay gọi nôm na là 3 bản Văn Giỏi: Phi vân điệp khúc, Đoản khúc lam giang và Vọng Kim Lang.

Năm 1976, dựa trên nền nhạc thang âm ngũ cung của âm nhạc cải lương, Nhạc sĩ Văn Giỏi (lúc này đương làm việc ở Đài tiếng nói Saigon) đã sáng tác hai giai điệu mới là Phi Vân điệp khúc và Đoản khúc lam giang. Kết hợp với âm hưởng của ca nhạc Huế và dân ca Nam kỳ, hai giai điệu trữ tình này lúc man mác du dương, lúc dịu êm sâu lắng nên nhanh chóng tạo hiệu ứng mạnh mẽ trong lĩnh vực cải lương. Sau đó, cùng với thầy đờn tranh Thanh Hải, ông cải biên lớp dạo đầu của giai điệu Vọng kim lang, dân ca Liên khu 5, làm nên một phong cách mới mẻ. Từ đó tới bây giờ, hầu hết các tác giả viết vọng cổ và kịch bản cải lương đều chú ý đến 3 giai điệu nầy để có thể đưa vào trong các sáng tác của mình. Ba bản nầy có thể xuất hiện ở nhiều tình huống, hoàn cảnh kịch, có khả năng kết hợp rộng trong hội thoại, đối thoại, độc thoại và xử dụng độc lập.

Điểm đặc biệt của 3 bản là các câu CHẦU- những khúc luyến thoắn để người đờn có thể khoe ngón đờn của mình.

Vọng Kim Lang- bản phối Phi Nhung- Thúy Nga Paris

Đoản khúc lam giang

Ba bản Văn Giỏi:

 

Từ Hán Việt trong cải lương

Ai mà thường nghe cải lương, đặc biệt là các tuồng tích cổ, tuồng tích Tàu.. sẽ rất thường hay băt gặp các từ Hán Việt. Có thể mình biết cái nó ám chỉ cái gì nhưng điển tích phía sau thì có thể không biết.

Sẳn dịp nay quởn, ngồi nhớ rồi biên lợi mấy từ ngữ liên quan đến đôi lứa, quan hệ gia đình mà các tuồng cái lương hay xử dụng:

Từ cải lương

Cắt nghĩa

Ý chỉ

Sắc cầm hảo hiệp/hợp Cầm là đờn cầm, có bảy dây; sắt là đờn sắt, có hai mươi lăm dây; hai cây đờn này phải đi đôi với nhau thì cung điệu nhạc mới hay Hòa hợp, hạnh phúc
Loan phụng hòa minh Chim loan chim phụng cùng hót đôi lứa hạnh phúc
Loan phiêu phụng bạc chim phượng chim loan tách rời tan tác chia ly, ly tán
Uyên ương là một loài chim nước, con trống gọi là uyên, con mái gọi là ương Đôi lứa
Yến oanh Chim yến, chim oanh. Hai loài này nhỏ nhắn bay lượn hót vang Đôi lứa đang vui vẻ, hạnh phúc
Trúc mai từ ghép tên cây mai và cây trúc Có đôi có cặp
Bạn loan Bạn là bè bạn, bạn hữu; loan là keo của chim loan, một loại keo rất chắc gắn bó keo sơn bền bĩ của vợ chồng
Châu Trần Châu Trần là hai họ thân thiết, và hay gã con cái cho kết hôn với nhau trong sử Tàu Hôn nhơn
Tham vàng bỏ ngãi Ngãi =nghĩa Tham sang phụ khó
Đá vàng Hai vật đá và vàng, tuổi thọ cao Ý chỉ sự sắc son chung thủy
Cô phòng Cái buồng chỉ ở được 1 người Chỉ đàn ông độc thân — Cũng chỉ người con gái chưa chồng, hoặc đàn bà goá.
Ba sinh Do chữ “Tam sinh” nghĩa là ba kiếp luân chuyển: kiếp này sang kiếp khác. Duyên nợ phải làm vợ chồng với nhau do số kiếp tiền định.
     
Phụng cầu hoàng Chim phượng trống tìm chim phụng mái Tìm kiếm một nửa
Tam tùng/tòng Là 3 nguyên tắc của giáo lý phong kiến Tàu (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử) Son sắt, chung thủy của đờn bà xưa
Thuyền quyên (phận gái) Thuyền Quyên là tên một cô gái học trò của Khuất Nguyên (tích Tàu), khi Khuất Nguyên hoạn nạn  chỉ có Thuyền Quyên một lòng hầu thầy vì nàng đã yêu Khuất Nguyên Người con gái đẹp nhưng lận đận trong tình yêu
Thân phụ (ba ruột), Kế phụ (ba ghẻ), Dưỡng phụ (ba nuôi), Nghĩa phụ (ba đỡ đầu)
Sanh/từ mẫu (mẹ ruột), kế mẫu (mẹ ghẻ), Dưỡng mẫu (mẹ nuôi), Thứ mẫu (vợ bé của ba), Nhũ mẫu (vú nuôi)
Bá phụ (bác), thúc phụ (chú), thẩm (vợ chú), tức (dâu), tế (rể), tẩu (chị dâu)

Tạm gác, bữa nào quởn nghe cải lương rồi biên tiếp.

Tập tành viết ca cổ

Ai có đọc qua blog nầy thì cũng biết là mình khoái đờn ca tài tử, cải lương, cổ nhạc. Mà chắc cũng không lạ nếu mình nói sẽ tập tành viết một bản nghe chơi. Ahihi

Nghe thì thấy dễ chứ đưa viết xuống biên thì quả thiệt không đơn giản chút nào. Làm sao để câu chữ có ý nghĩa, lại theo bài bản và tiết tấu là cả một vấn đề.

Bài ca đầu tiên tập tành biên, mình đặt tên là Mùi Quê. Xin nhá hàng mấy câu đầu, khi nào hoàn thiện sẽ nhờ người hát và chia sẻ rộng rãi.


MÙI QUÊ

điệu Khốc Hoàng thiên:

(gối đầu) Hôm nay một sáng mùa xuân, anh cùng em bước đăng…trình, về nơi chôn nhao cắt rốn, nơi mà mình cùng nhau khôn lớn. Nơi tuổi thơ mình êm ả trôi xa, nơi kỷ niệm đã đong đầy. Nơi có dòng sông nhỏ lao xao, cánh đồng khóm trúc cạnh mé ao. Nơi ta trải qua những tháng ngày cơ cực, nghèo tuy nghèo nhưng tình nghĩa bao la. Nay đi xa mới dịp trở về, ôi lòng đầy vấn vương. Ôi quê hương hai tiếng ngọt ngào, bao ngày đã đợi trông….

Vọng cổ:

(nói gối đầu) Nắm lấy tay nhau anh trước em sau ta cùng nhau quay về những ngày xưa yêu dấu, nơi tiếng mẹ đâu đó văng vẳng khúc ca dao bên hàng dừa xanh ngắt nghiêng bóng đong đưa đưa em vào giấc ngủ những trưa… hè. Nơi ấy thân thương dù đi đâu cũng trở về, thèm chút hương thơm của mùa lúa chín, đám lúa đốt đồng những làn khói trắng lan bay. Bóng những cây gòn soi xuống những dòng kinh, vẳng bên tai tiếng ai hát vang lừng. Mấy đứa tụi mình đâu có sợ nắng cháy da, cứ thoả sức hoan ca, dưới trưa hè chang chang nắng …

Bao năm qua cây gòn còn trơ trơ bóng, dẫu đã trải qua bao thế sự đổi dời. Mỗi độ hoàng hôn tắt hẳn ánh mặt trời hồng, cây gòn trơ mình in hình lên mặt nước, thân gầy gò cành lá đã trụi lơ. Đường vào nhà khói bụi mấy dãi bờ đê, bên bờ sông dải lúa mùa đang trỗ hạt. Dân quê mình đã qia bao ngày khó nhọc, để làm nên hình hài dáng vẻ làng quê ta….

Tương truyền về bản VĂN THIÊN TƯỜNG

Trong cổ nhạc Nam Kỳ có một điệu tên là Văn Thiên Tường, ngoài điệu Tứ Đại Oán, thì có lẽ Văn Thiên Tường là một trong những điệu ca mùi nhất.Lời lẽ bi thương nhưng trầm hùng tình cảm dạt dào, soạn giả thường dùng điệu hát này để cho các nhân vật giải bày tâm sự. Càng nghe điệu này càng cảm động rơi nước mắt .

Tác giả tương truyền là ông Ký Qườn – Trần Văn Quờn ở xứ Vĩnh Long ,điệu này ra đời vào những năm 20 thế kỷ trước. Tuy nhiên, cũng có tương truyền khác là bản Văn Thiên Tường do ông Trần Quan Thọ, một nhạc công của triều đinh, vô cư ngụ tại đất Mỹ Tho sáng tác vào cuối thế kỷ 19. Ông cảm cảnh nhà yêu nước Thủ Khoa Huân nổi lên chống Pháp (trào vua Tự Đức), giống với hoàn cảnh của ông Văn Thiên Tường vị quan trào Nam Tống (TQ) chống giặc Nguyên xâm lăng, cả hai cuộc kháng chiến đều thất bại, hai ông đều bị giặc bắt, tù đày và đến khi bị xử tử vẫn hiên ngang khí tiết. Ông Trần Quan Thọ mới mượn cái tên Văn Thiên Tường để nói về ông Thủ Khoa Huân hòng tránh tai mắt.

Nho gia đề cao chữ ” Trung quân” không thờ 2 chủ mà nhiều người gọi nôm na là cứng đầu , dân ghét nho gọi là ngu trung . Nhưng nói gì thì gì, sự trung thành, thành thực của một bầy tôi vẫn là điều mọi người kính trọng.

Ở Việt Nam ta có một giai thoại về chuyện thờ 2 chủ này .

Khi Pháp qua VN, Tôn Thọ Tường rủ bạn là tiến sĩ Phan Hiển Đạo ra cộng tác với Pháp, Pháp mua chuộc tiến sĩ Phan bằng mọi cách .Bản thân tiến sĩ chưa trả lời có cộng tác hay không thì chuyện tới tai cụ Phan Thanh Giản ,cụ nhắn với tiến sĩ Phan Hiển Đạo rằng :” Thằng Tường thì không sao chứ thằng Đạo thì không được vì nó đã hưởng lộc triều đình” , rồi viết mấy chữ “Thất thân chi nữ, hà dĩ vi trinh” (Con gái đã bị thất thân, sao cho là trinh được) ”

Bế tắc, tiến sĩ Phan Hiển Đạo đã tự tử khi mới 42 tuổi, bản thân ông là một bậc thầy đờn kìm trong đờn ca tài từ của xứ Định Tường .

Phong Việt.

Điệu Văn Thiên Tường

Chúng ta nghe lại điệu Văn Thiên Tường lớp dựng do Phượng Liên ca trong trích đoạn ” tuyệt tình ca”

NKKY- Tản mạn về cặp song loan trong nhạc tài tử

Trong âm nhạc cổ của Việt Nam, cặp song loan -song lang nhìn nhỏ xíu nhưng rất quan trọng.

Song lang-song loan là người Nam Kỳ gọi, chứ người Bắc gọi là cặp sênh, người Huế gọi là sênh tiền hay phách xâu tiền. Ban đầu nó chỉ là hai thanh tre già dùng để đánh nhịp, giữ nhịp và ngắt nhịp trong dàn nhạc.

untitled

Trong ca trù thì cô ca nương vừa ngồi hát vừa gõ cái sênh. Trong ca Huế thì cái sênh tiền có thêm mấy đồng xu kim loại nghe réo rắc. Vào Nam thì mấy ông sáng chế ra cái song lang dính với nhau.

Trong dàn nhạc tài tử hay cải lương thường khi song lang giao cho nhạc sĩ đờn Kìm.Cái song lang nằm dưới chưn của ổng, vừa đàn ổng vừa đạp nhịp. Trước khi vào hát thì dàn nhạc sẽ hòa đờn lên gọi là rao. Khi các cây đờn trong giàn đờn chấm dứt rao, thì ông đờn kìm cho một tiếng cốc của song lang tức là ra dấu hiệu bắt đâu vào bài. Khi gần kết thúc bài bản nào đó, nhạc sĩ cũng sẽ nhịp thúc song lang 2 cái để ra dấu cho ca sĩ biết mà canh dứt bản nhạc,

Trong suốt buổi hòa đờn hay buổi hát, chúng ta sẽ nghe nhiều tiếng cốc cốc nữa, tiếng mộc của song lang làm nổi bật câu đàn, nếu không thì câu đàn nghe khô khan.

Cặp song lang đã đi vào đạo Cao Đài thành cặp sanh. Cặp sanh thế cái chuông cái mõ trong tụng kinh của Cao Đài nó ngắt nhịp. Trong dàn đồng nhi đọc kinh của đạo Cao Đài sẽ có một cô cầm cặp sanh là hai miếng cây khô đứng đầu, cô này giữ nhịp cho dàn đồng nhi tụng kinh. Kinh Cao Đài theo hơi xuân và ngắt nhịp 2 (và 4), cứ hết 2 câu là cổ gõ cái cốc, nói chung giữ nhịp lên xuống rất chắc.

Phong Việt

Coi lợi tuồng cải lương NÀNG HAI BẾN NGHÉ

Nàng Hai và Tri yêu thương nhau nhưng vì hoàn cảnh éo le nàng phải nhận lấy lãnh binh Sắc làm chồng. Một lần thua trận, Sắc bị quan trên khiển trách, sẵn mang tâm trạng buồn bực, nên khi nghe quân mật báo việc Tri thường có cử chỉ thân mật với vợ mình, Sắc rất ghen tức. Một hôm Sắc cho người giả danh vợ mời Tri tới nhà bàn công việc gắp. Khi hai người gặp nhau, Sắc rời khỏi nơi ẩn nấp bước ra tri hô, ghép họ vào tội lăng loàn và cho lính đóng bè thả trôi sông cả hai người.

Một hai hôm sau viên quan ba Barbé, đóng binh ở chùa Khải Tường đang đi săn, bất ngờ gặp một bè chuối trôi trên đó có một người đàn ông và một người đàn bà. Theo dòng, hai con sấu lớn hung hãn, quẫy đuôi bám riết đuổi theo bè. Barbé liền nổ súng, sấu sợ hãi lặn trốn mất. Khi bè được vớt lên, người con trai tức Tri bị sấu cắn cụt mất một chân, đã chết. Phần người con gái là nàng Hai còn thoi thóp thở. Sau khi được chăm sóc, thấy cô trẻ đẹp nên Barbé ép cô phải chung sống với mình. Nàng Hai ưng thuận với điều kiện là được trở về nhà để thu xếp việc riêng.

Gặp nàng Hai về, Lãnh binh Sắc cho bắt cô với lời cáo buộc: tội thông đồng, mãi dâm với đối phương. Sắc cho giam nàng Haai dưới hố sâu, cho ăn xương cá và cơm hẩm. Thời may Trương Định đi tuần ngang, lệnh cho đem cô lên và nghe hết mọi chuyện oan trái này…

Nơi chùa Khải Tường, hôm đó trời vừa sụp tối, nghe lính canh báo tin có Nàng Hai đến xin gặp. Barbé mừng rỡ phóng ngựa ra đón. Còn cách cô gái chừng mười thước, quân Việt mai phục hai bên đường ào ra. Ngựa bị giáo dài đâm ngã quỵ, hất Barbé ngã xuống và lập tức bị chém chết. Hôm đó là ngày 7 tháng 12 năm 1860.

Hơn hai tháng sau, viện binh của Pháp từ Thượng Hải kéo đến Sài Gòn rầm rộ. Sau vài trận chiến ác liệt, đại đồn Chí Hòa bị hạ. Sau những ngày mịt mù khói lửa ấy, không ai tìm thấy cô gái nơi đâu, chẳng biết sống hay đã chết. Nhưng trong dân gian còn truyền tụng mãi hình ảnh người thiếu phụ bị thả trôi sông và đã góp công chống Pháp.

–       Viên sĩ quan Barbé chết, quân Pháp rất tức giận. Bởi vậy, họ chiếm lấy tấm bia đá (trên có khắc bi văn của Phan Thanh Giản soạn năm 1858) do vua Tự Đức sai chở từ Huế về Gò Công, để dựng nơi mộ ông ngoại mình là Đức Quốc công Phạm Đăng Hưng (lăng hoàng gia ở bài viết trước), làm bia mộ Barbé ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi (cũ). Mãi cho đến năm 1999, tấm bia mới được dựng tại mộ ông Hưng, tính ra tấm bia đá mang tên hai người chết một Pháp một Việt này đã luân lạc đúng 140 năm (1859-1999).

–       Chùa Khải Tường là một ngôi cổ tự, trước đây tọa lạc trên một gò cao tại ấp Tân Lộc, thuộc Gia Định xưa; nay ở khoảng khu vực Bảo tàng Chứng tích chiến tranh, Sài Gòn. Năm 1858, khi Pháp chiếm Sài Gòn, Đại úy Thủy quân lục chiến Pháp tên Barbé nhận nhiệm vụ dẫn quân vào chiếm giữ. Barbé cho đem tượng Phật bỏ ngoài sân, cưỡng bức các sư phải rời chùa.

–       Thời gian sau nữa, trên nền chùa bỏ hoang này, Pháp cho xây cất một dinh thự dành cho quan chức trong bộ máy cai trị. Trước năm 1963, dùng làm Trường Đại học Y dược. Sau khi chế độ của Tổng thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ, các tướng lãnh cho các cố vấn quân sự đến trú đóng.

–       Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, cơ sở trên được dùng làm Bảo tàng Chứng tích chiến tranh.

 

Coi lợi tuồng cải lương “NỬA ĐỜI HƯƠNG PHẤN”

Tùng và người anh Hai Cang mồ côi tía má  từ nhỏ nên được ông bác đem về nuôi. Đến tuổi trưởng thành, Tùng được giao trông coi một cửa hàng bán đồ điện ở Saigon. Tùng gặp một kỹ nữ giang hồ tên Hương, họ yêu nhau say đắm, nhưng bác và anh Hai Cang phản đối vì chuyện tình nầy ảnh hưởng đến gia phong lễ giáo của gia đình. Tùng nhất quyết sẽ làm lễ thành hôn với Hương.

Lúc đến nhà Hương ở trọ để báo hỷ sự, Tùng gặp Định. Đó là một tay “điếm đàng”, Định dọa sẽ cho gia đình của Hương ở dưới quê biết sự thiệt về cuộc đời “son phấn” của Hương với mưu đồ giữ Hương trong tay của hắn, không cho Hương được lấy Tùng. Hương nuốt nước mắt phải chia tay với Tùng bằng một bức thơ tuyệt tình. Hương giã bộ đóng kịch cho Tùng biết cô đã lấy chồng là Định. Thấy vậy, Tùng bằng lòng đi lấy vợ theo sự dàn xếp của Hai Cang.

Hương về quê nhưng không may bà chủ nợ Hai Lung mò tới, nói cho bía má cô biết Hương là gái giang hồ làm đĩ ở Saigon, tía cô giận quá đuổi cô đi. Lên Saigon, Hương tìm đến Tùng. Đến lúc nầy, anh Hai Cang mới tiết lộ chánh anh đã năn nỉ Hương xa lánh Tùng. Hương đã âm thầm hy sanh để cho Tùng khỏi mang tội bất hiếu. Một bất ngờ khác, Diệu (vợ Tùng) chánh là em ruột của Hương (ở dưới quê, tên thiệt của Hương là The).

Đau đớn tột cùng, Hương xuống tóc đi tu, khép lại vĩnh viễn quãng đời cay đắng. Lúc nầy Tùng đến chùa xin Hương tha thứ, má và em của Hương khóc lóc, xin Hương hoàn tục, nhưng Nửa Đời Hương Phấn đối với Hương đã là dĩ vãng. Hương ngậm ngùi chôn thân trong chiếc áo nâu sòng mãi mãi…

“Số phận con đã không may
Kiếp hoa tàn héo, đọa đày truân chuyên.
Tóc xanh gởi lại mẹ hiền
Đời con khép kín cửa Thiền từ đây”

——————————————————————————————————————————————

– Một lần nữa bộ tứ các nghệ sĩ Bạch Tuyết, Lệ Thủy, Minh Vương, Diệp Lang quá xuất sắc trong mấy vai chánh, Bảo Quốc, Kiều Mai Lý cùng Thanh Tòng cùng nhau tung hứng trong mấy vai thứ khá duyên dáng, và cô Hồng Nga thì không thể nào chê được với vai bà má nghèo thương con cái và nhẫn nhịn trước tánh gia trưởng của chồng, rất “gặc” Nam Kỳ.

– Mình không có dịp được coi bản dung trước với Thanh Nga Thanh Sang, hay Út Bạch Lan Thành Được. Tuy nhiên khi nghe lại thì mình vẫn không cảm được, có thể do không có phần hình ảnh nên ấn tượng của mình không mạnh bằng với bản dựng mới, mặc dù các thế hệ trước hát rất mùi.

– Khi nhắc tới Nửa Đời Hương Phấn, dân đờn ca tài tử thường hay móc đoạn Phụng Hoàng lúc Tùng gặp lại cả hai chị em The và Diệu, mà hát lúc trà dư tửu hậu…

Dù biết em thành hôn với ai đi nữa thì chị cũng ráng về với…
… Em… Để mừng ngày em xuất giá,
Cho vui lòng ba với má,
Chị cũng nở mặt nở mày với lối xóm bà con.
Còn Dượng Ba đây là một thanh niên có học thức, lại đàng hoàng,
Chị vô cùng sung sướng thấy em có một tấm chồng đúng như lòng chị ước mong.

Hay đoạn Kim Tiền Huế lúc tía con The đang dằn co nhau khi biết The là gái giang hồ ở Saigon

Tía: Không có cha con gì hết! Người nói chuyện với tao, tuy là xác con…
The,… nhưng là hồn của con Hương. Trước kia mày là đứa con gái đàng hoàng,
Nay mày lại đi làm bại hoại gia phong, lễ giáo nhà tao.
Tao cũng tin mày đi làm ăn chơn thật. Chớ tao đâu có dè mày đem tiết trinh đi bán cho người ta để nuôi mẹ cha. Trời ơi! đồ cái quân mất dạy. Đừng léo hánh về đây, để làm nhục tổ tong!

Hương: Con cúi đầu trăm lạy ba…
Tía: Thôi, thôi, mày đừng có lạy lục mà chi. Cho tao thêm tổn thọ.
Hương ư: Xin ba nhìn nhận con là con The. Cho con ở lại, sớm hôm hầu cha mẹ…

Coi lợi tuồng cải lương “ĐỜI CÔ LỰU”

Lựu là vợ Hai Thành, một tá điền của Hội đồng Thăng. Thấy Lựu có nhan sắc nên Hội đồng muốn đoạt cô làm vợ. Hội đồng Thăng lập mưu bỏ súng lục vào nhà Hai Thành rồi báo cảnh sát đến bắt vì tội làm quốc sự. Kết cục Hai Thành bị án tù hai mươi năm, đày đi Côn Đảo biệt xứ, tài sản bị tịch biên và Lựu trở thành vợ Hội đồng Thăng.

Lúc nầy Lựu đã có mang thai với Hai Thành. Khi đứa nhỏ được sinh ra thì Hội đồng Thăng giấu nó đem cho cô nhi viện và nói dối là bị chết. Lựu sau có với Hội đồng Thăng một đứa con gái tên là Kim Anh.

Các bà con tá điền rất thương Hai Thành, trong đó có vợ chồng ông Hương. Ông Hương biết Hội đồng Thăng là chủ mưu hãm hại Hai Thành. Đứa con trai của Hai Thành mà Hội đồng Thăng đem bỏ vào cô nhi viện được ông bà Hương bí mật xin về làm con nuôi, đặt tên là Võ Minh Luân.

Sau 19 năm ở Côn Đảo, Hai Thành vượt ngục về tìm vợ con. Gặp ông bà Hương, anh biết rõ mọi chuyện. Căm giận vì cho rằng Lựu phụ bạc, anh viết một bức thư buộc Lựu trong vòng ba ngày phải lo 10 ngàn đồng để anh thu xếp việc học hành, sinh cơ lập nghiệp cho Minh Luân, còn anh sau sẽ trốn đi biệt tích. Nếu tiền không có đúng hạn thì anh sẽ có cách báo thù. Hai Thành trao thư cho Minh Luân đem tới cô Lựu.

Nhận được thư, Lựu vừa mừng, vừa lo, vừa xót xa cho chồng cho con. Lựu thấy khó xử vì không biết làm cách nào có được 10 ngàn trong ba hôm, vì cô chẳng có quyền hành gì trong nhà Hội đồng Thăng. Kim Anh thương mẹ nên đem đồ tư trang đi cầm. Để kín chuyện, Kim Anh mua đồ tư trang giả thay vào. Tới ngày hẹn, Minh Luân đến. Sau khi biết tình cảnh của mẹ và em, Minh Luân cự tuyệt, không nhận số tiền.

Chẳng ngờ chồng Kim Anh đã biết chuyện vợ cầm đồ tư trang nên nghi vợ ngoại tình. Giờ thấy vợ nói năng thân mật với Minh Luân nên anh ta cho rằng Minh Luân là tình nhân của vợ. Thấy trong túi Luân có phong thư (của Lựu gửi cho Hai Thành) anh ta đòi xem. Luân không chịu đưa nên bị anh ta rút súng bắn trúng bắp chân.

Minh Luân được đưa vào bệnh viện điều trị. Cô Lựu đến thăm con, gặp Hai Thành. Sau khi nghe Lựu giãi bày, Hai Thành hiểu được nỗi khổ tâm của vợ. Đúng lúc đó, Hội đồng Thăng cũng tới, nhận ra Hai Thành nên sai tài xế đi báo cảnh sát. Minh Luân căm thù, xông tới đâm chết Hội đồng Thăng.

Vở cải lương kết thúc bằng bi kịch, Kim Anh phát điên. Cô Lựu cho rằng mình là nguyên do mọi tội lỗi nên nguyện cắt tóc đi tu để sám hối.

—————————–

– Tuồng này được sọan giả Trần Hữu Trang sọan năm 1936, một trong những tuồng tiêu biểu của Cải lương Nam Kỳ trước 1945. Vở cải lương kể về số phận đau khổ và éo le của cô Lựu dưới xã hội phong kiến, thực dân mà cô là một nạn nhân của xã hội lúc bấy giờ, cũng như nỗi khổ của người nông dân ở các vùng quê Nam Kỳ nói chung.

– Đối với mình thì khoái bản dựng của đoàn Trần Hữu Trang như trong clip bên trên. Đặc biệt thích cách diễn của bộ tứ Lệ Thủy, Bạch Tuyết, Thanh Sang, Diệp Lang. Ngoài ra còn một dàn bao thượng thừa với Minh Vương, Bảo Quốc, Ngọc Giàu và đặc biệt cô Hồng Nga trong vai bà Hai Hương. Cách diễn quá Nam Kỳ của bà Hai Hương Hồng Nga không lẫn với ai được mặc dù chỉ xuất hiện trong 1 màn. Trước Hồng Nga, có cô Ngọc Giàu cũng từng diễn qua vai nầy tuy nhiên cô không toát lên vẻ khắc khổ, tánh khảng khái của dân Nam Kỳ như cách diễn của cô Hồng Nga. Bù lợi, tuồng nầy cô Ngọc Giàu cũng rất thành công với Cô Bảy Cán Vá mà tới giờ chưa ai thay thế được.

– Từ khi biết coi cải lương và biết tới cô Hồng Nga thì mình chưa bao giờ thôi thích cô đóng những vai đào mụ. Mình luôn muốn xem lại và xem mãi mãi cô Hồng Nga trong vai mẹ của Hương trong Nửa đời hương phấn, vai mẹ Điệp trong Lan và Điệp, vai bà Hai Hương trong Đời Cô Lựu và vai mẹ Diệu trong Lá Sầu Riêng… đó là những bà mẹ Nam Kỳ, suốt đời sống cho chồng con, bao nhiêu nước mắt khóc cho thân phận bọt bèo của những đứa con hay bao nhiêu đắng cay đã nuốt trọn cho hạnh phúc của chồng con….

– Bên cạnh đào mụ, thì cô cũng rất duyên dáng trong các vai hài hoặc pha hài. Có thể đó là vì kế mưu sinh trong giai đọan cải lương khủng hoảng nhưng không phải ai cũng duyên dáng được như cô. Ngoài ra cũng nên nói đến những vai đào độc mà lời đay nghiến rành rạch trong từng câu nói, nhìn con mắt thôi đã phát sợ 🙁

– Cũng như những diễn viên gạo cội khác của sân khấu cải lương Nam Kỳ, cô cũng lận đận với cái mấy cái danh hiệu ảo …

Nói chung thì chưa bao giờ thôi thích cô Hồng Nga!

Út Bạch Lan & Hoàng Thùy Linh

Gần đây rùm beng cái vụ xét tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú, Nghệ sĩ nhân dân, trong đó có dính tới người nghệ sĩ mà mình rất yêu thích là Nghệ sĩ Út Bạch Lan. Cả đời Cô gắn bó với đờn ca, dù thời gian đã bào mòn sức khỏe ít nhiều nhưng Cô vẫn miệt mài dưới ánh đèn sân khấu, nhả những sợi tơ cuối cùng của mình cho nghiệp tổ, ước nguyện được đặc cách xét tặng danh hiệu NSND cho những ngày còn lại của đời nghệ sĩ của Cô trở nên ngày một xa hơn.

Cô Út an tâm, có hay không có những danh hiệu ảo đó, thì trong lòng các thế hệ Nam Kỳ, các Út Trà Ôn, Út Bạch Lan, Văn Vĩ, Viễn Châu, Thanh Nga, Minh Vương, Lệ Thủy, Bạch Tuyết, Hồng Nga, Ngọc Giàu, Diệu Hiền, Thành Được… vẫn mãi là tượng đài nghệ thuật, vẫn len lỏi vào tâm hồn trí nhớ. Đọc qua mấy bài báo làm mình rất vui khi Cô có ý không so bì về việc được hay không được phong tặng danh hiệu, thay đó Cô lấy làm trân quý những danh hiệu mà khán giả mộ điệu trao tặng, trong đó có danh hiệu “sầu nữ”. Cô biết không có những nghệ sỹ mang tiếng NSND ngoài kia, thử hỏi coi họ được bao nhiêu công chúng biết đến tiếng tăm ngoài tên tuổi nằm trong bảng hiệu của nhà nước, được đọc điếu văn hay mấy dãy lụa đen treo trên quan tài khi xuôi tay nhắm mắt?

Với kiểu làm như hiện nay của họ thì khả năng vài năm nữa Hoàng Thùy Linh cũng có thể được phong NSND, mình thật sự không muốn Cô Út đứng cùng danh sách đó.

1ut12_647d6

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

—————————————————————————————-

Mời mọi người nghe Cô Út hát 2 bản Nam Xuân- Nam Ai. Trong lời ca này có rất nhiều cổ ngữ mà người Nam Kỳ như mình cũng không hiểu hết được.

NAM XUÂN – NAM AI

Tô Huệ- Chức Cẩm Hồ Văn

1. Đây, đó đành- kết nguyền bạn lang
2. Nguyện, trăm năm- gắn chặt bền keo sơn
3. Duyên sắc cầm- đôi ta đã cạn lời vàng
4. Cho trọn nguyền, Chức nữ Ngưu lang
5. Noi Tư Mã, xưa, khúc Phụng cầu hoàng
6. Cho phỉ nguyền, quân tử tạo đoan
7. Như xuân huê cười, ong bướm nhộn nhàng
8. Đôi lứa mình, ví tựa Thôi Trương, Sắc mới ngoan

9. Xin nắm, giữ, câu tam tùng
10. Gái thuyền quyên, sánh với trang anh hùng
11. An giấc hòe, màn loan trướng trung
12. Tương tư mấy lời tựa như khúc đàn năm cung
13. Duyên liễu yếu, má núng má phấn
14. Đóa đào yêu, nào khác huê dung
15. Giai ngẫu tự thiên thành, lương duyên do túc đế
16. Thiếp nguyện ghi lòng, trọn niềm thủy chung
17. Đôi ta thề từ hồi ban sơ
18. Gió đưa duyên, ấy cũng nhờ ông tơ
19. Nguyệt lão xe dây tơ hồng, xui thành nợ duyên
20. Hiệp một nhà, liễu yếu đào thơ

Thể điệu: NGŨ ĐIỂM – BÀI TẠ

NGŨ ĐIỂM MAI – TỌA NGỌC LẦU thường được gọi là NGŨ ĐIỂM BÀI TẠ, là hai bản vắn rất phổ biến trong truyền thống nhạc tài tử cải lương và thuờng đuợc hòa đờn chung với nhau.

Tên Ngũ Điểm Mai là từ Hán Việt diễn tả hoa mai năm cánh mang đến niềm vui rôn ràng tươi mát cho thiên nhiên, con người. Tọa Ngọc Lầu cũng là từ Hán Việt có nghĩa là ngồi trên lầu ngọc. Đây là hình ảnh thường thấy trong văn chương, hội họa và âm nhạc Á Đông. Bài nhạc diễn tả hình ảnh con người phong nhã thanh tao, tâm hồn thiền định, ngồi trên lầu ngọc thưởng ngoạn cảnh vật thiên nhiên tuyệt vời.

Thể điệu Ngũ Điểm – Bài Tạ có âm thanh rộn ràng tươi vui. Bài nhạc được viết theo hệ thống ngũ cung Hơi Quảng và hay đuợc xài để dạy mấy bạn mới học đờn ca tài tử căn bản, đây cũng là bản mình hay tập lúc mới biết đờn 😀

Trích Tây Thi

Trích Mộc Quế Anh

Còn đây là một bản đúng điệu tài tử, lời lẽ châm biếm rất vui 😀