Giỗ ông Định ở Gò Công

Cách đây mấy bữa là giỗ ông Trương Định, đi dọc Gò Công thỉnh thoảng sẽ thấy nhà dân bên đường đem hình ông ra trước nhà lập bàn hương án với nhang đèn, trái cây rất nghiêm chỉnh. Không biết có can thiệp của chánh quyền không, nhưng âu đó cũng là tập quán tốt đẹp để giáo dục lịch sử.

Lối năm 1864, bị quân Pháp bao vây đánh úp ở Gia Thuận. Thất thủ, Trương Định rút gươm tuẩn tiết ở Ao Dinh hồi rạng sáng ngày 20 tháng 8

Quốc lộ 50: Đọc sử bằng cách đi đường (6)

Lộ Dương ở Gò Công

Chúng ta bắt đầu từ bên kia bắc Mỹ Lợi -Cầu Nổi, con lộ “ngựa trạm” xưa –rồi liên tỉnh lộ 5-nay là quốc lộ 50 xuất phát từ địa đầu tỉnh Gò Công. Người Gò Công xưa và nay lúc nào cũng hướng về Sài Gòn hơn Mỹ Tho, mặc dầu Mỹ Tho gần Gò Công hơn Sài Gòn, thành ra ai cũng qua bắc Cầu Nổi, bước qua cái lộ này hết.

Quốc lô 50 xưa khúc từ Cầu Nổi băng qua chợ Mỹ Lợi, đi ngang Xóm Tre của làng Bình Thạnh Đông xưa rồi qua cầu Sơn Qui, gò Sơn Qui (Tân Niên Trung) của nhà họ Phạm chạy về tỉnh lị Gò Công xưa.

Hai bên lộ trồng toàn là cây dương tức cây phi lao lâu năm, cây bự, tán rông và cao, lá xanh nhuyễn nhừ nhọn hoắc như kim may. Dân Gò Công đặt tên con lộ này là ‘Lộ Cây Dương”, lâu ngày gọi tắt là Lộ Dương

Lộ Dương hồi xưa rất thưa thớt người đi lại, nhà cửa hai bên không có nên vắng ngắc. Gò Công là tỉnh đò giang cách trở, “hốc bà tó” nên du khách ít ghé thăm. Trên đường thỉnh thoảng có chiếc xe ngựa. Hồi bà nội còn sống, bà hay kể hồi đó từ nhà mình đi vô thị tứ Gò Công hơn 15 cây số, hai bên đường thênh thênh ruộng lúa, khúc thì mịt mù bụi bờ nên thú dữ vô số. Khúc gần ngã Ba Bình Xuân có một cái mả bên phải vệ đường, nghe nói đâu là mả cũng một ông chuyên giết hổ trong vùng, sau dân thờ tự và đấp mã cúng cho tới ngày nay.

Nhà kiểu Gò Công- ngã Ba Bình Xuân

Ông Hồ Biểu Chánh miêu tả :”Trên lộ Cây Dương xe ngựa đưa người núc ních chạy chậm rì, tiếng lục lạc nhỏ khua xa xa nghe như tiếng nhái”

“Thiệt như vậy, giồng Sơn Quy đầu trong vô tới mé sông Gò Công, còn đầu ngoài đụng con đường quan lộ Gò Công lên Chợ Lớn. Hiện giờ du khách đến đó thì thấy dân cư thưa thớt, nhà cửa xơ rơ…” (Hồ Biểu Chánh)

Đường vô Tân Niên Trung

Lộ Dương chạy thẳng vô khu trung tâm Gò Công xưa. Tại đây có sân banh, dinh chánh tham biện, trường học, tòa án, khu này có mấy cái ao trữ nước mưa cho các công sở gọi là Ao Thiếc.

Dinh chánh tham biện Gò Công là tòa nhà hình bánh ú kiểu Tây, một tầng lầu được xây trong khuôn viên khá rộng

Năm 1864, Đô đốc De la Grandière thiết lập các Sở tham biện (hạt thanh tra or tiểu khu) ở Nam Kỳ do quan người Pháp coi sóc. Từ năm 1865, Nam Kỳ có các tham biện sau : Sài Gòn, Chợ Lớn, Cần Guộc, Tây Ninh, Gò Công, Tân An, Mỹ Tho, Cai Lậy, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Long Thành, Bảo Chánh, Bà Rịa.

Như vậy hạt tham biện Gò Công đã có từ 1865. Đứng đầu hạt tham biện là quan chánh tham biện người Pháp và khu vực của chánh tham biện được gọi là sở tham biện. Năm 1874 thì gọi là ‘địa hạt”, sau 1900 thì gọi là tỉnh, quan đứng đầu là ‘chủ tỉnh”

Dinh tỉnh trưởng Gò Công – đọc thêm ở đây 

Gò Công là tỉnh nhỏ xíu. Theo tài liệu “Annuaire de la Cochinchine Française, 1887”thì năm 1887 Gò Công có 64.170 người An Nam, 13 người Pháp, 588 người Tàu và 14 người Ấn Độ. Dinh chánh tham biện nằm quay mặt tiền ra đoạn đầu của lộ Hộ Mưu sau 1954 đặt là đường Thái Lập Thành. Mặt tiền dinh đâu mặt với trường trung học công lập Gò Công(trường Trương Định) bên phải của dinh là Lộ Dương và sân banh Gò Công.

Xa xa phía sau trái của dinh là cái tháp chuông cao vút của nhà thờ Thánh Tâm xây năm 1940. Chạy từ cầu Sơn Qui theo Lộ Dương quẹo đường Gia Long, vô Tổng Tứ qua cầu sắt Long Chánh về Mỹ Tho.

Phong Việt

 

Quốc lộ 50: Đọc sử bằng cách đi đường (4)

Qua khỏi chợ Cần Đước chạy thẳng chừng 4 cây số là tới Cầu Nổi. Còn nếu ngay chân cầu chạy thẳng luôn thì sẽ ra bến phà cũ, bây giờ thành đường cụt nên cũng hoang tàn lắm.

Mỹ Lợi

Mỹ Lợi ngày nay là tên một cái cầu bê tông, trước là tên một cái bắc qua sông Vàm Cỏ là ranh giới hai tỉnh Long An và Tiền Giang,vị trí phía bắc Gò Công và phía nam Cần Đước.

Bắc Mỹ Lợi xưa (Zing)

Cầu Mỹ Lợi nay

Xưa nay dân hai bên gọi là đò Bao Ngược, rồi hồi thập niên 60 người Mỹ thả trái nổi làm cầu bắc nên dân gọi là bắc Cầu Nổi, Cầu Nổi thành một địa danh vùng của Cần Đước, trên xe đò xe bus đều ghi Cầu Nổi là cái vùng hai bên cái bắc –mặc dù tên chánh thức là phà Mỹ Lợi. Nghe ba má kể hồi trước 75, ngay bến phà cũ có gắn cái chữ MỸ LỢI bằng xi măng ngay cổng vô bên bắc, sau nầy “mấy ổng” tháo xuống, dẹp luôn cái tên ấp Mỹ Lợi, đổi thành Trí Đồ. Mà cũng không ai biết và hiểu Trí Đồ có nghĩa gì với xứ nầy.

Mỹ Lợi xuất xứ ở đâu?

Hên là ông Hồ Biểu Chánh có táy máy tay chưn khi viết tiểu thuyết về địa phương của mình. Trong «Cay đắng mùi đời» có đoạn : «Ai đi đường Chợ Lớn xuống Gò Công, hễ qua đò Bao Ngược rồi lên xe chạy ra khỏi chợ Mỹ Lợi, tới khúc quanh, thì sẽ thấy bên phía tay trái, cách lộ chừng ít trăm thước, có một xóm đông, kêu là Xóm Tre, nhà ở chật, cái trở cửa lên, cái day cửa xuống, tre xanh kịt bao trùm kín mít, ngoài vuông tre thì ruộng bằng trang sấp liền từ giây»

Và một đoạn nữa :

“Năm ngoái qua chở thằng con qua lên Sài Gòn uống thuốc, đi tới Nước Xoáy qua có gặp một đứa nhỏ chừng mười ba, mười bốn tuổi đờn ca giỏi quá. Qua có hỏi nó, nó nói tên Ðược, gốc ở chợ Mỹ Lợi thuộc hạt Gò Công, chắc là nó đó chớ gì?”

 

 

Ngôi nhà kiểu Gò Công

Như vậy Mỹ Lợi là một cái chợ nằm bên mé Gò Công và từ 1923 chợ Mỹ Lợi vẫn còn. Năm nầy đã có bắc Mỹ Lợi nhưng dân gian vẫn quen gọi là đò Bao Ngược.

Gò Công là tỉnh nhỏ xíu khoảng 600 cây số vuông, là một bán đảo, bị sông và biển bao bọc. Xưa muốn về thành Gia Định thì chỉ có đi đò, đi ghe.

Bằng tài công đò Mỹ Lợi

Bằng khen cứu người của thủy thủ đò Mỹ Lợi

Vua Tự Đức dính quê ngoại Gò Công nên là người cho đắp con đường bộ chạy ngựa từ Gia Định xuống giồng Sơn Quy để liên lạc với quê ngoại mà nay là quốc lộ 50, trước là liên tỉnh lộ 15, trước nữa kêu là lộ Hàng Dương vì hai bên đường có trồng cây dương bự và mát lắm.

Pháp qua đã mở rộng, trải đá dăm con đường ngựa trạm đó nối Gò Công với Chợ Lớ, tất nhiên đều phải đụng con sông, cái đò Bao Ngược và sau nầy là bắc Mỹ Lợi-Cầu Nổi. Bắc Mỹ Lợi-Cầu Nổi là cái bắc “địa đầu” và quan trọng nhứt của tỉnh Gò Công xưa nên Pháp cho xà lan chạy máy ,trong khi bắc Chợ Gạo thì dùng tay kéo. Dân Gò Công cần cái bắc nầy nhiều hơn dân Cần Đước nên địa danh Mỹ Lợi lấy từ mé Gò Công chăng?

Năm 1889, thời Pháp thuộc, thái hậu Từ Dũ sai vua Thành Thái về lăng mộ họ Phạm ở Gò Công bái tổ tiên, vua Thành Thái theo đường ngựa trạm từ Chợ Lớn về đến bờ bắc bến đò Mỹ Lợi, qua đò sang Gò Công, tháp tùng có quan toàn quyền, chánh tham biện Gò Công và các quan viên trong tỉnh. Hương chức và người dân hai bên đường bày hương án đón tiếp.

Mỹ Lợi thẳng đến Gò Công
Tam quan tám cửa, Khánh môn nối liền
Lọng tán cờ biển hoan nghênh
Hội tề khăn áo rộng xanh đứng chờ

Năm 1942 vua Bảo Đại đích thân lái xe hơi đi theo con đường quốc lộ 50 cùng Hoàng hậu Nam Phương về Gò Công bái tổ và cũng dừng chưn –bước lên bắc Mỹ Lợi qua xứ Gò .

Quốc lộ 50: Đọc sử bằng cách đi đường (3)

Cần Đước

Ca dao Nam Kỳ có câu:

“Gạo Cần Đước, nước Đồng Nai
Ai về xin nhớ cho ai theo cùng”

Ngẫm mà vui,có cái xứ nào trong lịch sử sánh ngang với xứ Đồng Nai nhiều sản vật, gạo Cần Đước nổi tiếng bỏ vô nồi nấu với nước ngọt sông Đồng Nai thì số dzách. Cần Đước là một địa danh thuộc trường phái bắt đầu bằng chữ “Cần” trong Nam Kỳ lục tỉnh như Cần Thơ, Cần Giờ, Cần Giuộc…mà nếu tách chữ Cần đó ra thì không hề có ý nghĩa.

Biết chắc Cần Đước là xuất xứ từ tiếng Khmer rồi đó, có người nói Cần Đước là Anơơk tức là con rùa thì…chưa chắc đúng vì thực tế trong đời sống dân ở đây xưa giờ chưa thấy có con rùa tự nhiên nào trong vùng. Vậy Cần Đước là cái giống gì thì tới nay chưa có ai biết tỏ tường ?!?

Thời chúa Nguyễn,Cần Đước thuộc dinh Trấn Biên, chúa Nguyễn lập ở Nam Kỳ Cửu Khố – 9 trường biệt nạp tức trạm thâu thuế thì trên đất Cần Đước đã có 2 là Thiên Mụ, Cảnh Dương. Cần Giuộc, Cần Đước, Gò Công là ba vùng liền kề nhau, cùng làm “phên dậu” cho đất Gia Định Sài Gòn

Pháp qua,năm 1871 Cần Đước thuộc tỉnh Chợ Lớn. Cũng do người Pháp mà địa danh Cần Đước xuất hiện, năm 1923 Pháp dời trung tâm của đại lý hành chánh vùng từ Rạch Kiến về ngay chợ Cần Đước xưa, năm 1928 chánh thức lập quận Cần Đước tỉnh Chợ Lớn với quận lỵ đặt ngay làng Tân Ân, chợ Cần Đước.

Nói thêm về chợ Cần Đước xưa-có một cái làng ở ngay doi đất nhô ra ngã ba hai con rạch Ông Quỳnh và Bến Bà- lấy nước từ sông Bao Ngược –Vàm Cỏ, tên Cần Đước xuất phát từ cái chợ nầy, đối diện mặt chợ Cần Đước lúc đó là đình làng Tân Ân, sau đó lấy đình làm nhà việc của làng rồi xã, ngày nay là miếng đất trụ sở UBND thị trần Cần Đước.

Chợ Cần Đước xưa và nay

Trung tâm Cần Đước xưa rất dễ hình dung. Nhà việc làng -xã Tân Ân nằm đâu mặt chợ Cần Đước, cái đuôi chợ-khúc chợ cá thì nhìn thẳng qua bên đường lộ-tức Quốc Lộ 50 ngày nay- cách một khúc sông khá rộng hồi đó có cây cầu sắt gọi là cầu Chùa.

Từ Sài Gòn muốn vô dinh quận Cần Đước phải chạy qua cầu Chùa, trên cây cầu nầy đã nhìn thấy bên kia sông chợ Cần Đước rồi, chạy chừng vài trăm mét tới ngã ba nhà việc làng Phước Đông, có cái bến xe thì quẹo phải vô đường Nguyễn Khắc Tuấn (Nay là Nguyễn Trãi) chạy ngang qua khu nhà lầu Bà Sáu Chắt (Nay là ban chỉ huy quân sự huyện), cuối đường có một cây cầu sắt gọi là cầu Dinh Quận, qua cầu là thấy dinh quận, vô khu vực trung tâm chợ. Con đường độc đạo khi đó, dân các làng-xã Tân Ân, Tân Chánh, Phước Tuy muốn ra lộ cái đều phải đi đường nầy.

Sau 1975 ,để hạn chế thủy triều sông Vàm Cỏ lên xuống để ruộng lúa bên kia làng Tân Lân làm nhiều vụ người ta lấp ngang QL 50–xóa sổ Cầu Chùa, lấp luôn cầu Dinh Quận .Sau đó giải tỏa luôn chợ Cần Đước cũ, đắp một con đường từ chợ cũ thẳng ra QL 50 thành đường Trần Hưng Đạo ngày nay.

 

Cũng nên nhắc lại một cái vui vui,tháng 2 năm 1963 thời đệ nhứt VNCH TT Ngô Đình Diệm-tức là chỉ còn 8 tháng nữa là bị đảo chánh, ông Diệm vốn là người học Nho, thích phiên âm địa danh Miền Nam ra từ Hán Việt –ông đã biến chữ Cần Đước ra thành Cần Đức trong sự thảng thốt của dân Cần Đước. Cái tên Cần Đức có nghĩa tiêu cực, rất xấu mà là tên một quận, thành ra năm 1965 Cần Đước lại trở về.

Phong Việt

 

Đồi thông hai mộ

Hồ Than Thở- Đà Lạt- 1956

Từ Miền Tây thẳng cánh cò bay, chàng trai tên Vũ Minh Tâm lên Đà Lạt học tập. Chàng trai  nầy là con trai độc nhứt của một trong những điền chủ giàu có bậc nhứt Nam Kỳ với cả ngàn mẫu ruộng khắp các tỉnh miền Tây, có cả biệt thự ở Sài Gòn, ở Đà Lạt… Nhưng do là con trai một nên áp lực lập gia thất khiến chàng trai mệt mỏi, vì chưa muốn ràng buộc hôn nhân khi còn quá trẻ, lại không có nhiều cảm tình với người được ba má hỏi cho, Vũ Minh Tâm đã lên Đà Lạt học ở trường Võ bị để tránh né cuộc hôn nhơn xếp đặt.

Lê Thị Thảo là sinh viên Văn khoa ở Đà Lạt. Trong một lần đi dạo bên bờ hồ Sương Mai (nay là hồ Than Thở), duyên trời đã khiến Thảo gặp Tâm. Xúc động trước nhan sắc mong manh và tính tình dịu dàng của nữ sinh viên Văn khoa, chàng trai đã đem lòng nhớ nhung bóng hình đó. Kể từ ngày ấy, cả hai thường hẹn nhau cùng đi dạo quanh hồ Sương Mai, và cũng chính hồ Sương Mai này là nơi chứng kiến lời thề hẹn trăm năm của đôi trai tài gái sắc.

Quãng thời gian là sinh viên tuổi mười tám, đôi mươi, cả hai là đôi tình nhơn đẹp trong mắt các sinh viên cùng khóa. Nhưng rồi thời sinh viên cũng hết. Lê Thị Thảo tốt nghiệp, trở thành cô giáo dạy văn ở thành phố Đà Lạt, còn Vũ Minh Tâm cũng về quê, chăm sóc ba mẹ già, làm tròn nhiệm vụ của đứa con độc nhứt.

Ngày chia tay, Vũ Minh Tâm có hứa với người yêu, sẽ xin ba mẹ sắm trầu cau lên hỏi cưới Thảo. Nhưng lời hứa đó không thành. Ba má Vũ Minh Tâm chê Thảo chỉ là con gái một gia đình công chức nghèo, không môn đăng hộ đối nên nhứt nhứt ép con trai cưới cô gái mà họ đã chọn năm nào, dù cho Vũ Minh Tâm hết lòng cầu xin. Không thể cãi lời ba má, nhưng cũng không thể phụ tình người yêu ở Đà Lạt, Vũ Minh Tâm đã làm đơn xin đi lính. Trước khi đi, chàng có gửi cho người yêu một bức thư, dặn dò cô đợi chờ mà cố tình giấu chuyện gia đình ngăn cản. Tin tưởng vào lời ước hẹn tình yêu, năm nầy qua năm khác, cô giáo dạy văn Lê Thị Thảo chung thủy chờ đợi mối tình đầu, dẫu cho bao chàng trai theo đuổi cũng mặc.

Biết con trai còn nặng tình với cô gái nghèo xứ Đà Lạt, ba má chàng trai đã cho người lên Đà Lạt, nói rõ việc gia đình họ không chấp nhận một cô con dâu không tương xứng. Vài tháng sau, sợ điều đó không chia rẽ được tình cảm của đôi trai gái, gia đình Tâm đã gửi tin báo Tâm đã tử trận ở chiến trường. Chưa hết đau khổ vì không được gia đình người yêu chấp nhận, lại nghe tin người yêu đã tử trận, ngày ngày, cô giáo Lê Thị Thảo thường lên đồi thông ngồi khóc.

Nghĩ rằng sống không có được nhau, thì chết sẽ nhứt định thuộc về nhau, Thảo đã quyên sinh trên đồi thông để trọn vẹn mối tình với Tâm. Cái chết của cô giáo dạy văn hiền lành đã khiến người dân Đà Lạt vô cùng thương xót. Gia đình biết câu chuyện tình ngang trái của Thảo, đã chôn Thảo trên đồi thông ven hồ.

Nửa năm sau, Tâm trở về tìm Thảo. Hóa ra cái tin Tâm tử trận chỉ là tin giả. Sau khi hết nghĩa vụ quân sự, chàng về Đà Lạt tìm người yêu sau bao tháng bặt tin thì nghe tin sét đánh. Gia đình Thảo đưa Tâm lên ngôi mộ của Thảo trên đồi thông. Chàng trai chung tình đã khóc hết nước mắt bên nấm mồ người yêu nay đã xanh cỏ. Sau mấy ngày khóc vật vã quên ngủ, quên ăn, vừa nhớ thương người yêu, và trách giận gia đình, Tâm đã không quay về quê mà trở lại chiến trường lửa đạn.

Một thời gian sau, Tâm ngã xuống giữa chiến trường. Trong những kỷ vật của Tâm còn lại, có những dòng nhựt ký về Thảo, về câu chuyện tình bi thương của chàng trai chung tình. Tâm có viết một dòng trong nhựt ký, như lời di chúc, dặn nếu tử trận, Tâm mong được đưa về chôn cất bên cạnh mộ người yêu, trên đồi thông.

Thương xót mối tình của đôi trai gái bất hạnh, người ta đưa Tâm về, cất một ngôi mộ cho Tâm ngay bên cạnh mộ Thảo. Gia đình Thảo vẫn qua lại hương khói cho cả hai ngôi mộ. Người dân quanh vùng biết chuyện, cũng thường đến đốt nhang ở đây.

Kể từ đó, đồi thông mang tên gọi mới “Đồi thông hai mộ”. Chuyện cũng kể rằng chàng trai Vũ Minh Tâm đó là người Gò Công.

Cảm khái chuyện tình của hai người, nhạc sĩ Hồng Vân đã sáng tác bài hát “Đồi thông hai mộ” khá phổ biến…

… mộ chàng đã được ở cạnh nàng

Như lời xưa thề ước

Nằm hiu hắt đến ngàn thu an giấcdưới mộ sâu đất khô

Qua bao năm rêu xanh phủ che kín…

Biên soạn

 

Gò Công cảnh cũ: Về Gò Công ăn bánh giá

Nếu như nói tới món ăn đặc trưng của Mỹ Tho là hủ tiếu, thì Gò Công nổi tiếng nhứt chắc có lẽ là Bánh Giá. Bánh giá không cầu kỳ chế biến, cách ăn cũng bình dân, mà hạp nhứt là để ăn sáng, mấy cha nhậu cũng có thể lai rai với mấy xị đế, nghe nói ngon bá chấy 🙂 . Bánh mang vị béo của bột gạo, vị ngọt của tôm, giá sống, mùi thơm của đậu phộng ăn cùng nước mắm ớt tỏi thiệt khoái khẩu.

Bánh giá ở Gò Công chổ nào cũng có, nhưng ngon và nổi tiếng hơn thảy là bánh giá Chợ Giồng. Bây giờ không biết còn không, chứ hồi đó, mỗi lần đi xe đò từ Mỹ Tho về Gò Công, cứ gần tới ngã Ba Vĩnh Bình, nhìn mé tay mặt có một cái sạp nhỏ, có lò củi đốt khói nghi ngút, chảo gang mỡ sôi sùng sục với đám bánh giá. Gió thổi cuốn theo mùi bánh thì tụi con nít như mình đứa nào mà không đòi mẹ mua một cái cho bằng được?

Bánh giá bán trên xe buýt ở Gò Công

Ngày xưa người bán chiên bánh bằng chảo gang, vá gang, lửa củi; có lẽ nhờ vậy mà độ giòn của bánh ngon hơn ngày nay. Khi bột gạo được cho vào vá, người ta cho thim thịt heo, gan heo xắt miếng, núm rơm, núm mèo vô, rồi phủ lên một lớp giá sống, sau đó phủ tiếp một lớp bột gạo rồi bỏ mấy con tôm bạc đất lên mặt bánh trước khi cho vào chảo mỡ heo để chiên. Gói bánh mà đúng điệu thì phải gói bằng lá chuối khô.

10580088_10152645888494378_1037962613964178638_n

Hồi nhỏ, mỗi lần mẹ đi chợ về là chỉ mong sao được mua cho cái bánh giá vàng khè giòn rụm, rồi nhét lấy nhét để vô miệng, mỡ tươm ra đầy miệng cho thỏa thích. Lớn hơn chút thì có dịp được đi chợ Gò Công, có khi đứng cả nửa tiếng đồng hồ coi mấy bà cô chiên bánh, rồi hít ngửi khói bánh thơm cho đã thèm rồi mới mua. Cầm cái bánh nóng hổi mới vớt khỏi nồi, hít hà cho đã rồi cắn cái rụp- bà nội ơi, nó ngon!!!!. Thiệt tình viết mấy dòng nầy mà… chảy nước miếng.

Bánh giá ngay ngã ba Vĩnh Bình

Về tên gọi,  do cái vá được xử dụng để định hình cho bánh, người miền Nam đọc trại “vá” thành “giá” từ đó trở thành tên gọi của bánh là bánh giá. Cũng có giả thuyết nói là tên bánh giá xuất phát từ nguyên liệu làm bánh gồm giá sống, trứng gà, bột năng, bột gạo, gan heo, thịt, tôm, đậu phộng…còn mình thì đọc là “bánh dzá” hehe.

Một mai em gái lấy chồng
Ai mần bánh dzá Chợ Giồng anh ăn…

Mà nghe đồn đâu ở miệt  An Giang cũng có thứ bánh tương tự, nguyên liệu có thêm khoai môn, củ sắn, xong cái chế vô cái cống để đong, nên cọi là bánh cống.

Phong chưa ăn Phong không biết 🙂

Nhà hai lần cháy

Một ngày đẹp trời, xem lợi tủ hồ sơ của ông nội, chợt thấy nhiều giấy tờ lạ mắt. Đem ra coi, hỏi và nghe ba kể lợi mà thương cho ông bà và gia đình đã trải qua một giai đoạn lịch sử thăng trầm của đất nước, nhứt là chuyện chạy trốn bom đạn, vốn dĩ vô tình…

Mỹ Tho- Biến cố Mậu Thân 1968 (Mậu Thân 68)– Ba thời điểm đó vẫn là anh chàng sinh viên Sư phạm Long An, mẹ thì vẫn còn là cô nữ sinh trường Lê Ngọc Hân đệ nhị cấp ở Mỹ Tho.

Lúc nầy, Miền Bắc Cộng Sản với công cụ của họ là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam đương tập trung tài lực “đánh lén” Việt Nam Cộng Hòa vào những ngày đầu Tết Mậu Thân trong năm 1968 trên khắp đô thị Miền Nam khi họ đột ngột không giữ lời đề nghị ngưng chiến do chính họ đưa ra (không khó hình dung). Miền Bắc cũng đã không nghĩ gì đến 3 ngày Tết Nguyên Đán, ngày truyền thống của dân tộc, những ngày đầm ấm nhứt của xứ sở mỗi năm, hay sự yên vui của đồng bào để xum họp và cúng bái tổ tiên, một tập tục thiêng liêng từ xưa tới giờ.

Đúng đêm mùng 2 tết Mậu Thân 31/01/1968, lúc nầy mẹ đang cùng với ông bà ngoại còn ở bên mé bên kia bờ sông Tiền phía Kiến Hòa. Pháo binh của quân đội quốc gia nã từ sông lên các khu nhà dọc theo mé Mỹ Tho tành tạch sáng trưng cả đêm, nơi được cho là nơi ẩn núp của quân CS. Ông nội đương là tài công của sở Bắc Rạch Miễu nên được điều cả gia đình về khu gia binh mà sống nên cũng an toàn, chỉ có nhà cửa của cải là đi tông.

Nhà ông bà ngoại bên kia sông cũng không kém thê lương khi 2/3 là bị cháy sập hoàn toàn. Cả nhà trốn dưới hầm nhưng đạn vẫn lạc và trúng vô hông của cậu 9, tới giờ cẩu vẫn còn hay đau ở vị trí viên đạn lạc nầy.

Tờ khai tai nạn mà Ông nội làm để kê các tổn thất của căn nhà bị cháy

img_5077 img_5079

 

Ba mẹ kể, ngay sáng hôm sau khắp đường phố Mỹ Tho xác người nằm la liệt, mùi tanh hôi lan tràn cả Mỹ Tho, không khí tang thương bao trùm cả miền Nam.

Gò Công- Mùa hè đỏ lửa 1972

Rời Mỹ Tho, cả nhà nội kéo về Gò Công sống trên nền nhà ngày xưa. Lúc nầy, ông nội được chuyển về Mỹ Lợi làm thủy thủ,  ba cũng đã lấy mẹ và về đây dạy học.

Một đêm trong chiến dịch Xuân Hè 1972, được tin từ chánh quyền nên từ tối hôm trước đó, cả nhà ông bà nội đã thâu gọn những đồ đạc giá trị, nhang đèn thờ tự, rồi dắt díu 10 đứa con đứa lớn đứa nhỏ nheo nhóc chạy về mé bến bắc Mỹ Lợi mà trú. Việt Cộng đêm đó đúng kế hoạch đã len lõi vô khắp khu vực xóm nhà ông nội;  pháo binh Quốc gia cùng hỏa lực ồ ạt đổ xuống một vùng rộng chừng cây số vuông, mà nhà ông bà nội là tâm điểm. Ba kể đêm đó nhìn từ xa, cả vùng trời sáng lên một màu vàng khè, bụi tro của cây lá nhà cửa bay mù khắp nơi. Cả xóm ở khu gia binh cách đó chừng 3 cây số nhìn về hướng đám cháy mà nước mắt chảy ròng ròng…

Trên nền nhà nầy năm 1973, ông bà nội đã bán căn nhà ở Mỹ Tho, lấy tiền đó xây lại căn nhà như hiện nay.

Nền nhà năm xưa giờ cây cỏ đã xanh, ông bà nội cũng đã mất.12123_10152312088079378_978920827_n

img_1218

 

 

Gò Công cảnh cũ: dinh tỉnh trưởng Gò Công

Tối qua có đi coi xi nê CÔ HẦU GÁI, một phim kinh dị lấy bối cảnh An Nam những năm 1953 tại đồn điền cao su Sa Cát trù phú. Mình ngờ ngợ ngay cảnh quay ngôi biệt thự của ông chủ đồn điền những chi tiết rất quen thuộc. Tìm kiếm thông tin trên mạng thì không có, nhưng mình vẫn nghĩ 99% bối cảnh nầy là ở DINH TỈNH TRƯỞNG GÒ CÔNG (dân địa phương hay kêu là Dinh ông chánh).

Dinh Tỉnh trưởng tức ngôi nhà ở của Chánh tham biện Gò Công – Thái Lập Thành. Vị trí dinh nằm ngay trung tâm Gò Công, day phía đông là giáp Sân Vận Động Gò Công  và Toà án, Nam giáp đường Thái Lập Thành nay là đường Nguyễn Văn Côn, Tây giáp đường Trần Hưng Đạo và Bắc giáp đường Lộ Dương nay là đường Nguyễn Trọng Dân, xéo qua bên tay trái phía trước là trường Trung học Gò Công của mình. Ngôi dinh thự nầy xây dựng theo kiến trúc Pháp vào năm 1885, bằng toàn bộ vật liệu được mang từ chánh quốc qua. Dinh thự đồ sộ với quy mô một trệt, một lầu, diện tích khoảng một ngàn thước vuông, kiến trúc tương tự như những dinh tỉnh trưởng khác ở Nam Kỳ, tuy nhiên đây có lẽ là dinh bự nhứt.

Theo thầy Phan Thanh Sắc thì sở dĩ lấy năm 1885 là năm xây dựng là bởi hồi năm 1985 nước Cộng Hoà Pháp có gởi cho Nhà Chức trách Tỉnh Gò Công cũ, yêu cầu ngưng xử dụng dinh thự dành cho viên Chủ Tỉnh vì dinh thự nầy khi xây cất Sở Tạo Tác thuộc Bộ Hải Quân Pháp dự trù xử dụng có một trăm năm thôi. Tới năm 1985 là đúng hạn nên báo cho Nhà Chức trách Gò Công đừng xử dụng, nguy hiểm. Gò Công có nhiều dinh thự và ngôi nhà Tây cất nhưng duy nhất chỉ có Dinh Chánh Tham Biện nầy Tây báo cho ta mà thôi. Lúc đó thầy Sắc là Giáo viên Tổ trưởng Ngoại ngữ của trường Trung học Trương Định, Ủy Ban mới nhờ trường xem coi văn thư chữ Pháp do Tỉnh chuyển xuống nói gì, và Ủy Ban cho ngưng xài dinh thự nầy hồi năm đó luôn.

24342668262_2c8e4219de_o

Ngày nay dinh bị hư hỏng nhiều, cũng không có tu bổ gì, phần bên trong hư hỏng gần hết, bên ngoài phần tường đã bong tróc như lở loét. Có một thời gian nó được xử dụng làm …nhà nuôi yến và bị người địa phương chửi bới hết chổ nói. Mặc dầu bây giờ không còn nuôi yến nữa, nhưng kế hoạch trùng tu cũng không thấy đâu.

24450963815_54ff61d907_o 24424745076_46c00b44f3_o 24342671032_5a094c5dbc_o

Dinh đối với mình có nhiều kỷ niệm, nhứt là cái sạp cho mướn truyện cũ ngay trước dinh. Hồi còn ở đó cứ mỗi chiều Thứ Năm là chạy ra tiệm để canh truyện mới ở Sài Gòn đem dìa để mướn, xong cái xách vô trong hành lang chổ dinh, ngay gốc cây bông giấy ngồi đọc ngon lành. Chổ nầy cũng là chổ lý tưởng để tụi con nít chơi bắn kè, chơi năm mười.

24424774466_89b4c5608f_o24155385120_ed8060fbb1_o

 

Sẳn nói về ông Chánh Thái Lập Thành (đọc thêm ở link): tên ông được xử dụng để đặt cho một ngôi trường cấp 2 ở Gò Công- Trường Thái Lập Thành hay trường Nhà Đèn. Sau 75, Cộng Sản xóa bỏ mọi dấu tích của ông, đổi tên trường thành trường THCS Phường 1, tuy nhiên giờ về Gò Công hỏi trường Thái Lập Thành ở đâu, 99% người Gò Công đều biết tỏ (cũng như trường Nam là trường tiểu học Phường 1, trường Nữ là trường nghềGò Công ngày nay). Ở Sài Gòn ngày xưa có hai con đường tên Thái Lập Thành mà ngày nay là đường Đông Du và đường Phan Xích Long.

Học trò TH Gò Công trước dinh- 1992 (hình của chị gái)

thieu-nu-go-cong

Hình ảnh trong bài nầy: mình xin phép xử dụng hình ảnh tìm được của một bạn tên Tan Tran trên Flickr, hình bản chụp rất đẹp, cũng ma mị y như trong phim.

 


Trailer phim Cô Hầu Gái với bối cảnh dinh thự ở đồn điền Sa Cát

 

GÒ CÔNG CẢNH CŨ- Đình Gò Táo, Tân Đông

Khách thập phương về Gò Công thăm thú, ngoài những địa danh lịch sử quan trọng, còn một điểm tới khá thú vị: Đình Gò Táo, Gò Công.

Ngay cả giai thoại về chuyện xây đình cũng đủ làm tò mò: được khởi công xây dựng từ hồi năm 1904, dưới sự bảo hộ của đức bà Từ Dũ, đã cho người từ Huế vô để thi công, bảo đảm chất lượng và tánh mỹ thuật của nhà rường Huế. Cũng giữa năm nầy xảy ra sự kiện lụt năm Giáp Thìn khiến cả vùng Gò Công tiêu điều, thêm nữa là tình hình triều đình nhiều thay đổi, Pháp tăgn cường các hoạt động xu thuế nên việc xây dựng đình bị đình trệ. Tới năm 1907, đình mới được xây dựng xong tại địa điểm hiện tại (cách địa điểm cũ hơn cây số)

Đình Gò Táo nhìn từ xaIMG_4562

Điểm độc đáo nữa của của đình mà không nơi nào có được là mặc dầu bị thời gian tàn phá, hầu hết các kiến trúc chính như cột trụ, kèo đỡ, võ ca, nhà hội,…đều đã hư hỏng và đổ nát, mái ngói bị lủng nhiều chổ nhưng nhờ bộ rễ của hai cây bồ đề dày đặc, chạy dọc theo các rường và cắm sâu xuống đất như một cái giá đỡ vững chắc cho phần vách tường và cột còn lại khỏi sụp đổ. Những hoa văn trang trí trong đình dù đã bị rêu phong bao phủ, nhưng vẫn còn đó nét tinh tế, nổi bật trên các cột, kèo, bao lam…

IMG_4538Vết tích còn lại, đánh dấu năm 1907

IMG_4547Hệ thống kèo đã rệu rãIMG_4554

Bao lam & máiIMG_4549

 

IMG_4548Những cây cột rêu phongIMG_4552

 

Nghe nói đình trước đây có sắc phong Thành hoàng bổn cảnh, khôi phục uy danh cho Tả quân Lê Văn Duyệt, người có công trong công cuộc phục vị của vua Gia Long cũng như quá trình khai phá xây dựng miền Nam. Sắc phong bị mất tích hồi những năm 80, một trong những lý do việc trùng tu đình bị trì hoãn khi không biết gốc tích, không biết rõ vị thần hay công thần nào. Một lý do hết sức XHCN.

Chánh điện thờ THẦN, cùng Hữu ban, Tả banIMG_4533

IMG_4550Bàn thờ tiền hiền, hậu hiền chỉ còn lại những mảng gạch nátIMG_4530

Coi qua mấy video trên mạng thì được biết thời Pháp thời Mỹ nơi đây là nơi tụ họp của Việt Cộng. Mình thì bán tín bán nghi, thứ nhứt là địa điểm khá gần với trung tâm Gò Công, lại kê đầu vô thị trấn Tân Tây nên rất tấp nập, việc tụ tập của Việt Cộng ngay khu vực nầy dường như không thể. Hai là, khu vực Tân Đông Tân Tây xưa nay nổi tiếng khá giả (đặc biệt khu nầy rất nhiều nhà kiểu xưa đồ sộ, bây giờ vẫn còn) lại gần sân bay quân sự Gò Công có từ thời Pháp sang tới thời Mỹ, việc tụ tập lại càng khó khăn, Việt Cộng nào dám vô?

IMG_4534

Đứng dưới tán cây mát rượi, giữa mênh mông đồng ruộng, nhìn mái đình xuống cấp, rơi rụng từng ngày mà hậu bối xót xa. Khả năng hồi phục dường như rất thấp, chỉ mong chánh quyền dòm ngó để bảo lưu lại dấu vết còn lại nầy để con cháu đời sau.

IMG_4540

IMG_4558

Cách đi tới ĐÌnh Gò Táo

Từ ngã tư Long Thuận, hướng đi về Tân tây mà thẳng tiến, chạy chừng 5 cây số sẽ tới Nghĩa trang các ông cố nội. Vừa qua khỏi nghĩa trang là có một con đường nhỏ, mon theo con đường nầy tầm 200 thước là thấy đình oai vệ bên tay mặt.