Nam Kỳ ký ức: cách đặt tên con cái

Dòm lại dòng họ bên nội mới thấy cách đặt tên con cái hồi xưa cũng ngồ ngộ. Tỷ dụ ông nội mình tên Gần, em nông nội tên Bò, Lẹ, Lên. Ba mình tên Sạng, các chú là Cọp, Khỉ, Beo, Hùm. Kế bên nhà mình là nhà ông bà Sáu, tên các con lần lượt là Thuận, Thảo, Đẹp, Quá, Mừng, Vui, Thu. Dưới xóm Voi có Lo, Lắng, Cực, Khổ, Qua; rồi Bụi, Lùm, Lức, Lác; rồi On, Đơ, Tro, Cát, Xe, Xích (đếm số tiếng Pháp)…

Đúng vậy, nhiều nhà bình dân ở Nam Kỳ đặt tên con cái hết hồn vía, không phải tên bông hoa gì đâu, toàn là tên kiểu phồn thực. Nghe tên lạ lạ ha, xưa ông bà sơ đặt tên xấu hoắc để dễ nuôi, là vì đã đẻ mấy đứa rồi mà không nuôi sống được, xấu quá nên bầy sau đặt tên rất ghê, vậy mà nó sống, riết rồi thành tập tục lúc nào không hây.

Ông nội mình hồi còn sống có kể là người Nam Kỳ mình hồi xưa đẻ ở nhà toàn qua tay bà mụ vườn mụ đồng, y tế rất tệ, một người đàn bà khi sanh nở thì nằm trong buồng nhà và kêu mụ vườn lại, trước khi ông chồng chạy kêu bà mụ thì kịp bắc nồi nước lên bếp cho nó sôi, bà mụ cắt cuống rún đứa nhỏ bằng miếng miểng chai nên nhiều khi bị nhiễm trùng. Rồi điều kiện lạc hậu nên nuôi con nít lớn lên rất èo uộc. Quặc quẹo thì đổ thừa Trời, và đặt tên xấu cũng là cách tự trấn an.

Dân Nam Kỳ mình còn một kiểu con xí được nữa cũng để trừ xui. Một bà mẹ sanh con ra nó bị bịnh hoạn hoài nên tìm trong xóm một bà mẹ đông con khỏe mạnh nhờ làm mẹ đỡ đầu cho con mình.

Đại loại bà mẹ ruột kiếm cái manh đệm lót xuống lề đường rồi bỏ con xuống, bà hàng xóm đông con làm bộ đi ngang la lên “Í, con ai bỏ vậy ta? Không nuôi tui lụm về nuôi nha” rồi bả ẳm đứa nhỏ lên đem về nhà má ruột đứa nhỏ nói “Tui cho cô đứa nhỏ nầy nè, tui lụm nó ngoài đường”, từ đó đứa nhỏ có tên ở nhà là “Lượm” hoặc là “Xí Được”, khi chập chửng bập bẹ biết nói biết đi nó sẽ kêu bà hàng xóm đó là má nuôi, tức là mẹ đỡ đầu.

Những đúa bé bị mẹ quăng ngoài đường cho người ta nuôi đều tên Lượm, Lượm Anh, Lượm Em, Lượm Lớn. Lượm Nhỏ, con Lượm, thằng Lượm, tức nhiên là bị mẹ đẻ quăng thiệt, nhưng những đứa Lượm giả bộ kia thì vẫn do mẹ ruột nuôi, khi nó nhận thức ra thì cũng không gọi bà hàng xóm là má nữa, đơn giản chỉ là giả bộ, có nuôi ngày nào đâu mà quyến luyến. Ai mà coi cải lương tuồng Nửa Đời Hương Phấn, chắc sẽ nhớ đoạn cô Diệu dỗi ba má vì bị đối xử không công bình với cô chị The, do cô là đứa con được “lượm” ở gốc mít sau nhà, đoạn này cô Lệ Thuỷ diễn rất là dễ thương 🙂

Đó là giới bình dân, chớ nhìn vô những gia đình có gia sản tiền tài thì họ cũng đặt tên theo lối khác. Tỷ như người giàu, có học, coi trọng chữ nghĩa thường rất thận trọng, chọn lựa các mỹ danh tiêu biểu cho đạo đức, ước vọng phú quý giàu sang. Họ không có tham vọng lớn, chí hướng cao mà chủ lo đến tương lai con cháu sẽ phát tài, làm ăn thạnhvượng. Chẳng hạn gia đình cô Năm Phỉ ở Mỹ Tho ở Mỹ Tho là một ca điển hình. Cô Năm Phỉ sanh trong một gia đình trung lưa, tại làng Điều Hoà, Mỹ Tho. Các chị em cô phần lớn đều là nghệ sĩ. Thân phụ cô tên “Công” (Lê Văn Công). Ông có 11 người con đều đặt tên: Hai Thành, Ba Danh, Tư Toại, Năm Phỉ, Sáu Chí, Bảy Nam, Tám Nhi, Chín Bia, Mười Truyền, Mười Một Tạc, út Để. Tên cha và các con nhập lại thành câu: “Công thành, danh toại, phỉ chí nam nhi, bia truyền, tạc để. Trong đó hai cô Năm Phỉ và Bảy Nam sau nầy trở thành các đào cải lương nổi tiếng nhứt nhì Nam Kỳ.

Phong Việt

Nam Kỳ ký ức: hàng ba

“Đêm đêm ra đứng hàng ba. Trông về quê mẹ lệ sa buồn buồn…”

“Hàng ba” là từ chỉ xuất hiện  ở Nam kỳ và có thể gọi là phương ngữ nam kỳ. Nếu như ở miền Bắc hay Trung, người ta xài từ “thềm nhà” hay “hành lang”, thì người Nam kỳ xử dụng từ nầy, nghe loáng thoáng đâu đó vẫn thân thương và gần gũi hơn.

Kiểu nhà thông dụng nhứt ở đây là kiểu nhà 3 gian 2 cháy, kiểu chữ đinh. Hàng ba chiều ngang bằng với chiều ngang ngôi nhà, nhưng dài chỉ từ một mét rưỡi đến hai mét (1,5 – 2m), được rào bởi xi măng và những bông gió thâm thấp, trên là những miếng gạch hai tấc tạo thành cái bệ dài. Chủ ý hàng ba không phải ngăn kẻ trộm, mà là bệ ngồi cho bạn bè chiều chiều nhảy phóc lên hàng ba tán dóc, chuyện trò…

Với đám nhóc chúng tôi, hàng ba là một sân chơi đầy thú vị những ngày hè hoặc sau giờ học. Hàng ba là nơi con gái chơi nhảy dây, lò cò, tạt lon; tụi con trai thì chơi tạt lon, bắn kè; là chổ mẹ ngồi lựa thóc hay chảy tóc cho con gái mỗi bữa trưa hè.

Như trong đoạn cải lương trong tuồng Nửa đời hương phấn, đoạn chị em The với Diệu tâm sự cùng mẹ ở chùa, cảnh bà mẹ mô tả cảnh gia đình quấn quít ngoài hàng ba mà muốn khóc.

 

Quốc lộ 50: Đọc sử bằng cách đi đường (5)

Lộ Dương ở Gò Công

Chúng ta bắt đầu từ bên kia bắc Mỹ Lợi -Cầu Nổi, con lộ “ngựa trạm” xưa –rồi liên tỉnh lộ 5-nay là quốc lộ 50 xuất phát từ địa đầu tỉnh Gò Công. Người Gò Công xưa và nay lúc nào cũng hướng về Sài Gòn hơn Mỹ Tho, mặc dầu Mỹ Tho gần Gò Công hơn Sài Gòn, thành ra ai cũng qua bắc Cầu Nổi, bước qua cái lộ này hết.

Quốc lô 50 xưa khúc từ Cầu Nổi băng qua chợ Mỹ Lợi, đi ngang Xóm Tre của làng Bình Thạnh Đông xưa rồi qua cầu Sơn Qui, gò Sơn Qui (Tân Niên Trung) của nhà họ Phạm chạy về tỉnh lị Gò Công xưa.

Hai bên lộ trồng toàn là cây dương tức cây phi lao lâu năm, cây bự, tán rông và cao, lá xanh nhuyễn nhừ nhọn hoắc như kim may. Dân Gò Công đặt tên con lộ này là ‘Lộ Cây Dương”, lâu ngày gọi tắt là Lộ Dương

Lộ Dương hồi xưa rất thưa thớt người đi lại, nhà cửa hai bên không có nên vắng ngắc. Gò Công là tỉnh đò giang cách trở, “hốc bà tó” nên du khách ít ghé thăm. Trên đường thỉnh thoảng có chiếc xe ngựa. Hồi bà nội còn sống, bà hay kể hồi đó từ nhà mình đi vô thị tứ Gò Công hơn 15 cây số, hai bên đường thênh thênh ruộng lúa, khúc thì mịt mù bụi bờ nên thú dữ vô số. Khúc gần ngã Ba Bình Xuân có một cái mả bên phải vệ đường, nghe nói đâu là mả cũng một ông chuyên giết hổ trong vùng, sau dân thờ tự và đấp mã cúng cho tới ngày nay.

Nhà kiểu Gò Công- ngã Ba Bình Xuân

Ông Hồ Biểu Chánh miêu tả :”Trên lộ Cây Dương xe ngựa đưa người núc ních chạy chậm rì, tiếng lục lạc nhỏ khua xa xa nghe như tiếng nhái”

“Thiệt như vậy, giồng Sơn Quy đầu trong vô tới mé sông Gò Công, còn đầu ngoài đụng con đường quan lộ Gò Công lên Chợ Lớn. Hiện giờ du khách đến đó thì thấy dân cư thưa thớt, nhà cửa xơ rơ…” (Hồ Biểu Chánh)

Đường vô Tân Niên Trung

Lộ Dương chạy thẳng vô khu trung tâm Gò Công xưa. Tại đây có sân banh, dinh chánh tham biện, trường học, tòa án, khu này có mấy cái ao trữ nước mưa cho các công sở gọi là Ao Thiếc.

Dinh chánh tham biện Gò Công là tòa nhà hình bánh ú kiểu Tây, một tầng lầu được xây trong khuôn viên khá rộng

Năm 1864, Đô đốc De la Grandière thiết lập các Sở tham biện (hạt thanh tra or tiểu khu) ở Nam Kỳ do quan người Pháp coi sóc. Từ năm 1865, Nam Kỳ có các tham biện sau : Sài Gòn, Chợ Lớn, Cần Guộc, Tây Ninh, Gò Công, Tân An, Mỹ Tho, Cai Lậy, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Long Thành, Bảo Chánh, Bà Rịa.

Như vậy hạt tham biện Gò Công đã có từ 1865. Đứng đầu hạt tham biện là quan chánh tham biện người Pháp và khu vực của chánh tham biện được gọi là sở tham biện. Năm 1874 thì gọi là ‘địa hạt”, sau 1900 thì gọi là tỉnh, quan đứng đầu là ‘chủ tỉnh”

Dinh tỉnh trưởng Gò Công – đọc thêm ở đây 

Gò Công là tỉnh nhỏ xíu. Theo tài liệu “Annuaire de la Cochinchine Française, 1887”thì năm 1887 Gò Công có 64.170 người An Nam, 13 người Pháp, 588 người Tàu và 14 người Ấn Độ. Dinh chánh tham biện nằm quay mặt tiền ra đoạn đầu của lộ Hộ Mưu sau 1954 đặt là đường Thái Lập Thành. Mặt tiền dinh đâu mặt với trường trung học công lập Gò Công(trường Trương Định) bên phải của dinh là Lộ Dương và sân banh Gò Công.

Xa xa phía sau trái của dinh là cái tháp chuông cao vút của nhà thờ Thánh Tâm xây năm 1940. Chạy từ cầu Sơn Qui theo Lộ Dương quẹo đường Gia Long, vô Tổng Tứ qua cầu sắt Long Chánh về Mỹ Tho.

Phong Việt

 

NKKU: Tiệm kim hoàn lá dừa

Nghe cái đề tự thấy hết hồn, chứ thiệt ra rất tầm thường 🙂

Nhớ lại những bữa trưa lộng gió, tụi con nít trong xóm lợi í ới nhau, xoay quanh bóng mát tán dừa ,đốn tàu lấy lá chơi trò “làm tiệm”. Nói “làm tiệm” là phạm trù  “vĩ mô” vì trong đó rất nhiều trò nhỏ: cất chòi, làm tiệm (cơm nước, vàng bạc đá quý, y trang, èn, con vật,…). Trong đó làm vàng bạc đeo vô người là trò dễ nhứt.

Nguyên vật liệu cực kỳ đơn giản, lá dừa. Thông thường thì có 2 loại lá dừa: lá dừa nước và là dừa cây. Lá dừa nước thì cứng, giòn nên thường xử dùng làm những thứ có kích thước lớn, còn lá dừa cây thì dai hơn, mỏng hơn và dễ tạo dáng những đồ chơi nhỏ lẻ.

img_5474 img_5475

 

Hồi đó mấy nhà hàng xóm hay có con nít ở Sài Gòn về quê chơi, mỗi lần tụi nó dòm tụi mình chơi trò lấy lá dừa làm đồ trang sức, làm chong chóng, làm kèn… là chảy nước miếng. Thế là tha hồ hả hê trong bụng “mày hả bưởi, tưởng ở Sài Gòn là ngon hả, đủ thứ tụi mầy không làm được như con nít nhà quê tụi tao!”

Cà rá vàng 24 trơn, không có hộtimg_5481

Cà rá có hột xoàn 10 ly tặng gáiimg_5484

Lắcimg_5477

Còn cái nầy để đi cưới vợ, có mặt hột xoàn trái tim :))))img_5479

Dây chuyềnimg_5486

 

Nguyên bộ này để đi cưới vợ 🙂img_5490

Rồi làm sao có thể quên được những buổi trưa ngồi dưới tán cây dừa lão, cặm cụi xếp lá, rồi tìm một gò đất cao cao ngồi tụm ba tụm bẩy đợi cơn gió mạnh để được cầm trên tay chiếc chong chóng lá dừa quay tít, hay khoe nhau “nhà tao giàu có đeo đầy vàng bạc nè”… Trò chơi quê dù đơn giản nhưng nó đã một thời gắn bó với đám con nít trong những tháng ngày khó khăn, túng thiếu nơi quê nghèo.

Kèn láken-2 substandardfullsizerender ken-3

Thể điệu: Lý cây bông

Bông xanh, bông trắng rồi lại vàng bông, ơi người ơi!
Bông lê sao bằng bông lựu, ơi người ơi!
Rằng a ý a đố rằng, bông rồi lại mấy bông.
Rằng a ý a đố rằng, bông rồi lại mấy bông./.

Chắc trong chúng ta không ai không biết bản dân ca Nam Kỳ nầy, những câu ca gắn liền với tuổi thơ, từ những ngày bập bẹ biết hát ca.

Hoặc ở quê mình thì hay nghe câu nầy, nhứt là mấy buổi chiểu loa phóng thanh hay phát

Trăng lên soi sáng đồng ruộng miền quê, ôi Gò Công
Trăng lên cao càng soi rộng, ôi dòng sông.
Hàng cây trái sai trĩu cành. Khoe mình đẹp trước trăng.
Xuồng ai lướt xuôi theo dòng, trăng hoà cùng bóng em .

Trong sân khấu cải lương, điệu lý nầy cũng rất thường xuyên được xử dụng, coi một số video nhé.

Đờn chơi: Thuyền hoa

Thuyền Hoa là một bản khá nổi tiếng của nhạc sỹ Phạm thế Mỹ, bên cạnh bản Bông Hồng Cài Áo. Bản Thuyền Hoa này thưởng được xử dụng trong các đám cưới Nam Kỳ ngày hồi khoảng những năm 90, hoặc được chèn vô mấy cái băng Video đám cưới, nhứt là những cảnh lúc rước dâu.

 

Từ Hán Việt trong cải lương

Ai mà thường nghe cải lương, đặc biệt là các tuồng tích cổ, tuồng tích Tàu.. sẽ rất thường hay băt gặp các từ Hán Việt. Có thể mình biết cái nó ám chỉ cái gì nhưng điển tích phía sau thì có thể không biết.

Sẳn dịp nay quởn, ngồi nhớ rồi biên lợi mấy từ ngữ liên quan đến đôi lứa, quan hệ gia đình mà các tuồng cái lương hay xử dụng:

Từ cải lương

Cắt nghĩa

Ý chỉ

Sắc cầm hảo hiệp/hợp Cầm là đờn cầm, có bảy dây; sắt là đờn sắt, có hai mươi lăm dây; hai cây đờn này phải đi đôi với nhau thì cung điệu nhạc mới hay Hòa hợp, hạnh phúc
Loan phụng hòa minh Chim loan chim phụng cùng hót đôi lứa hạnh phúc
Loan phiêu phụng bạc chim phượng chim loan tách rời tan tác chia ly, ly tán
Uyên ương là một loài chim nước, con trống gọi là uyên, con mái gọi là ương Đôi lứa
Yến oanh Chim yến, chim oanh. Hai loài này nhỏ nhắn bay lượn hót vang Đôi lứa đang vui vẻ, hạnh phúc
Trúc mai từ ghép tên cây mai và cây trúc Có đôi có cặp
Bạn loan Bạn là bè bạn, bạn hữu; loan là keo của chim loan, một loại keo rất chắc gắn bó keo sơn bền bĩ của vợ chồng
Châu Trần Châu Trần là hai họ thân thiết, và hay gã con cái cho kết hôn với nhau trong sử Tàu Hôn nhơn
Tham vàng bỏ ngãi Ngãi =nghĩa Tham sang phụ khó
Đá vàng Hai vật đá và vàng, tuổi thọ cao Ý chỉ sự sắc son chung thủy
Cô phòng Cái buồng chỉ ở được 1 người Chỉ đàn ông độc thân — Cũng chỉ người con gái chưa chồng, hoặc đàn bà goá.
Ba sinh Do chữ “Tam sinh” nghĩa là ba kiếp luân chuyển: kiếp này sang kiếp khác. Duyên nợ phải làm vợ chồng với nhau do số kiếp tiền định.
     
Phụng cầu hoàng Chim phượng trống tìm chim phụng mái Tìm kiếm một nửa
Tam tùng/tòng Là 3 nguyên tắc của giáo lý phong kiến Tàu (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử) Son sắt, chung thủy của đờn bà xưa
Thuyền quyên (phận gái) Thuyền Quyên là tên một cô gái học trò của Khuất Nguyên (tích Tàu), khi Khuất Nguyên hoạn nạn  chỉ có Thuyền Quyên một lòng hầu thầy vì nàng đã yêu Khuất Nguyên Người con gái đẹp nhưng lận đận trong tình yêu
Thân phụ (ba ruột), Kế phụ (ba ghẻ), Dưỡng phụ (ba nuôi), Nghĩa phụ (ba đỡ đầu)
Sanh/từ mẫu (mẹ ruột), kế mẫu (mẹ ghẻ), Dưỡng mẫu (mẹ nuôi), Thứ mẫu (vợ bé của ba), Nhũ mẫu (vú nuôi)
Bá phụ (bác), thúc phụ (chú), thẩm (vợ chú), tức (dâu), tế (rể), tẩu (chị dâu)

Tạm gác, bữa nào quởn nghe cải lương rồi biên tiếp.

Tập tành viết ca cổ

Ai có đọc qua blog nầy thì cũng biết là mình khoái đờn ca tài tử, cải lương, cổ nhạc. Mà chắc cũng không lạ nếu mình nói sẽ tập tành viết một bản nghe chơi. Ahihi

Nghe thì thấy dễ chứ đưa viết xuống biên thì quả thiệt không đơn giản chút nào. Làm sao để câu chữ có ý nghĩa, lại theo bài bản và tiết tấu là cả một vấn đề.

Bài ca đầu tiên tập tành biên, mình đặt tên là Mùi Quê. Xin nhá hàng mấy câu đầu, khi nào hoàn thiện sẽ nhờ người hát và chia sẻ rộng rãi.


MÙI QUÊ

điệu Khốc Hoàng thiên:

(gối đầu) Hôm nay một sáng mùa xuân, anh cùng em bước đăng…trình, về nơi chôn nhao cắt rốn, nơi mà mình cùng nhau khôn lớn. Nơi tuổi thơ mình êm ả trôi xa, nơi kỷ niệm đã đong đầy. Nơi có dòng sông nhỏ lao xao, cánh đồng khóm trúc cạnh mé ao. Nơi ta trải qua những tháng ngày cơ cực, nghèo tuy nghèo nhưng tình nghĩa bao la. Nay đi xa mới dịp trở về, ôi lòng đầy vấn vương. Ôi quê hương hai tiếng ngọt ngào, bao ngày đã đợi trông….

Vọng cổ:

(nói gối đầu) Nắm lấy tay nhau anh trước em sau ta cùng nhau quay về những ngày xưa yêu dấu, nơi tiếng mẹ đâu đó văng vẳng khúc ca dao bên hàng dừa xanh ngắt nghiêng bóng đong đưa đưa em vào giấc ngủ những trưa… hè. Nơi ấy thân thương dù đi đâu cũng trở về, thèm chút hương thơm của mùa lúa chín, đám lúa đốt đồng những làn khói trắng lan bay. Bóng những cây gòn soi xuống những dòng kinh, vẳng bên tai tiếng ai hát vang lừng. Mấy đứa tụi mình đâu có sợ nắng cháy da, cứ thoả sức hoan ca, dưới trưa hè chang chang nắng …

Bao năm qua cây gòn còn trơ trơ bóng, dẫu đã trải qua bao thế sự đổi dời. Mỗi độ hoàng hôn tắt hẳn ánh mặt trời hồng, cây gòn trơ mình in hình lên mặt nước, thân gầy gò cành lá đã trụi lơ. Đường vào nhà khói bụi mấy dãi bờ đê, bên bờ sông dải lúa mùa đang trỗ hạt. Dân quê mình đã qia bao ngày khó nhọc, để làm nên hình hài dáng vẻ làng quê ta….

Thăm Đình Long Thanh- Vĩnh Long

Trong lần về Vĩnh Long trước, trong lúc tìm đường về Văn Thánh Miếu Vĩnh Long, mình bị đi lộn đường. Nhưng cũng nhờ vậy mà mình đã vô tình tìm đến được một trong những ngôi đình đẹp và hoàn thiện nhứt Nam Kỳ (theo đánh giá chủ quan của mình) – Đình Long Thanh.

IMG_4171


Đình Long Thanh cũng nằm  bên dòng Long Hồ, ngay ngã ba sông, day mặt chánh vô đường lộ (đường 8 tháng 3, phường 5), day mặt hậu ra sông Long Hồ, bên kia sông là Chợ Cua sầm uất.

Theo sử sách thì Đình Long Thanh (hiệu là Long Thanh Võ Miếu- 龍清廟宇) được dựng lên bởi lớp lưu dân đầu tiên khi vô vùng đất này khai hoang lập ấp. Năm 1754, con cháu các họ Mai, Hồ, Mạc, Võ đã vận động di dân đóng góp xây dựng một ngôi đình thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh, nhưng không phải tại địa điểm hiện tại. Được sự gợi ý của ông Lê Quang Nguyên quan tuần phủ Hà Tiên và được ông Nguyễn Văn Khiêm không con cháu thờ tự đã ủng hộ hiến tặng hai mẫu đất tại chổ hiện tại để xây đình.

IMG_4174

 

Sau khi việc xây đình đã tạm ổn, hội quí tế của đình mới trình sớ cho triều đình xin sắc phong thần. Tới năm Tự Đức đệ ngủ niên Quý sửu 1852, đình mới được cấp sắc Thần Hoàng Bổn Cảnh chi thần, thuộc ấp Long  Thạnh, Long Thanh thôn, Vĩnh Bình huyện, Vĩnh Long tỉnh.

IMG_4175

 

Tới năm 1913, được sự ủng hộ của bà cả Mai Hữu Tấn nhủ danh Nguyễn THị Mai là người giàu có đã ủng hộ toàn bộ gỗ gồm 64 cây cột, cây làm kèo, xuyên, vách ván (tổng tiền mua cây áng chừng 5,000 đồng – thời đó giá lúa là 2,5 xu một giạ). Các vâtj liệu xây dựng khác được Hội quí tế đình quyên góp từ dân địa phương. Thợ Cả xây dựng là ông Trương Minh Công cho 18 tháng, tiền công 200 đồng và 300 giạ lúa cơm.

Đình xây dựng theo mẫu những đình làng Nam kỳ khác nhưng với qui mô lớn hơn với kết cấu gồm năm căn nóc hình chóp, hai căn nóc bánh ít nối tiếp nhau. Giữa đình là chính tẩm nóc hình bánh ít, phía sau là nhà khách. Phía trước là võ quy nóc hình chóp và võ ca nóc hình bánh ít. Phía bên tả là nhà bếp. Trong chính tẩm là nơi đặt khánh thờ thần Thành Hoàng và khánh thờ Tả Hữu Ban liệt vị. Trước khánh thờ thần Thành Hoàng là hương án hội đồng thờ Quốc Tổ Hùng Vương. Trước khánh thờ Tả Hữu Ban là hương án thờ thần Bạch Mã và thần Thái Giám. Hậu cung thờ các vị tiền hiền, hậu hiền có công xây dựng, bảo vệ ngôi đình. Trong hậu cung có ba bàn hình vuơng với ba khám thờ, chạm lưỡng long chầu nguyệt, sơn son thếp vàng.

Chánh diệnIMG_4190

Võ caIMG_4187

 

Bàn thờ Tiền hiền, hậu hiền, thái giám

IMG_4196Đình nhìn từ mé ngoàiIMG_4199

Bao lam (cửa võng) được sơn son thiếp vàng rất đẹpIMG_4189

Nhà hộiIMG_4198

Hằng năm, tại đình Long Thanh có hai ngày lễ lớn: lễ Hạ Điền ngày 14 và 15 tháng ba âm lịch và lễ Thượng Điền ngày 16 và 17 tháng 10 âm lịch

Hôm mình tới lối chừng 7h sáng, ông từ vừa mở cửa đình để dọn dẹp. Nghe ông tâm sự là việc giữ đình từ tâm chứ không vì lợi ích gì khác. Thế hệ trước của ông đã làm việc này nên tới đời ông cũng vẫn làm, chánh quyền cũng không ủng hộ gì khác. Nghe ông nói, hồi năm 2007, đình Long Thanh bị mất 6 cái lư đồng, 5 độc bình, 6 kỷ lư, một bàn nghi thờ và hàng chục đồ vật kèm theo khác như: chân lư, đỉnh lư, khay trầu rượu… Nhưng dầu sao so với phần còn lại của những đình miễu Nam Kỳ, đây vẫn là một ngôi đình được chăm sóc, bảo quản tươm tất.

Cách đi tới đình Long Thanh

Từ đường Phạm Thái Bường chạy về hướng Long Hồ, quẹo vô đường Trần Phú. Chạy thẳng tới cầu Chợ Cua, qua cầu. Ngay khi qua cầu thì quẹo trái vô đường 8 tháng 3. Cứ vậy chạy thẳng ruột ngựa chừng 3 cây số thì gặp cầu Long Thanh, đình Long Thanh ngay bên dưới chân cầu nầy.

Quanh đình là những cây cổ thụ tán cao có thể nhìn thấy từ phía xa, xung quanh là các nhà vườn xum xuê cây trái, khói sớm từ các mái nhà làm không gian thêm an bình.

Dìa Vĩnh Long thăm Văn Thánh Miếu

Cuối tuần rồi có về Vĩnh Long chơi nhà người bạn, tranh thủ lúc mọi người vẫn còn ngủ nướng, mình đã lọ mọ lấy xe để tìm hiểu một vài địa danh nổi tiếng ở xứ nầy. Một trong những địa điểm đã tìm hiểu trước đó là Văn Thánh Miếu Vĩnh Long. Đọc quanh trên mạng thì không thấy một hướng dẫn nào cụ thể, địa chỉ hay thông tin gì khác. Nhưng không sao, đường đi trong miệng, vừa đi vừa hỏi, cuối cùng cũng tìm ra, không quá xa từ chổ mình ở.


Văn Thánh Miếu Vĩnh Long thờ  đức Khổng Tử tại làng Long Hồ, tỉnh Vĩnh long. Đây là một trong ba Văn Thánh Miếu được xây dựng đầu tiên ở Nam Kỳ cùng với Văn Thánh Miếu ở Biên Hòa và Gia Định.

IMG_4201

Các sĩ phu ở Biên Hòa, Gia Định, Định Tường không chịu làm tay sai cho Pháp và để giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc nên họ đã rời khỏi Gia Định, Biên Hòa để về Vĩnh Long tỵ địa. Họ đã xây dựng Văn Thánh Miếu để làm nơi ôn tập cho các sĩ tử và cũng là nơi để hoạt động văn hóa, đề cao các tiền hiền, giáo dục lòng yêu nước cho nhân dân. Được xây dựng từ năm 1864 và hoàn thành cuối năm 1866 với sự chủ trì của Kinh lược đại thần Phan Thanh Giản, Đề học Nguyễn Thông, sự đóng góp của nhiều đại thần cựu trào cùng sĩ phu và nhân dân ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên.

Theo lời kể của dân địa phương, Văn Thánh Miếu đã qua nhiều lần tu bổ qua các năm 1872, 1903, 1914, 1933, 1963 và 1994. Tuy đã nhiều lần được trùng tu, tôn tạo nhưng Văn Thánh Miếu Vĩnh Long vẫn giữ được vẻ đẹp tôn quý, thanh cao. Cổng Tam quan của văn Thánh Miếu uy nghi nghiêng mình bên bờ sông Long Hồ yên tĩnh.

IMG_4216

IMG_4217

Khổng môn truyền đạo thiên ban thượng

Thánh Miếu sùng văn vạn đại tôn

(Đạo truyền của Khổng Thánh trên ngàn bực

Miếu Thánh sùng văn cả vạn năm)

Hai hàng cây cao thẳng tắp tạo cho khuôn viên vườn cảnh và khu di tích một bề sâu và không khí uy nghi trầm mặc. Trước cổng đền là tấm bia ghi văn tài của cụ Phan Thanh Giản, mặt trước nêu lý do dựng miếu, xưng tụng công đức Thánh Nhơn và triều đình, mặt sau dương danh những người có công. Hai bia khác đứng gần nhau ở phía ngoài nói về những nhơn sĩ, thân hào và người có công trùng tu, cúng hiến cho Văn Thánh Miếu.

Điện Đại Thành

IMG_4213

IMG_4208

IMG_4206

IMG_4214

Ngoài điện chánh, còn phải kể tới 2 công trình tiêu biểu khác trong khuôn viên Văn Thánh Miếu: Khổng Thánh Miếu & Văn Xương Các.

  • Khổng Thánh Miếu thờ Đức Khổng Tử- tổ Nho Đạo. Theo đó học thuyết của Khổng tử là nền tảng cho đạo trị nước của nhiều triều đại phong kiến. Khi sang Việt Nam, đạo này đã góp phần không nhỏ cho nền văn hóa và học thuật nên các vị vua nhà Lý, nhà Trần cũng lập miếu thờ Đức Thánh Văn.

IMG_4203

  • Văn Xương Các nằm ngay bên phải lối vào khu di tích, hai bên có hai khẩu thần công. Văn Xương Các được xây dựng 2 từng: từng trên để tàng trữ văn thơ, chính giữa là bàn thờ ba vị thiên đế trông coi về văn học. Từng dưới là nơi nghỉ ngơi cho khách đến cúng tế Khổng Tử, và nơi bình văn luận võ của các quan lại lúc vãn trào.

Đọc thêm về   Văn Thánh Miếu Vĩnh Long trên trang của Wikipedia,Văn Thánh Miếu Vĩnh Long của Nguyễn Bá Hoa.

Cách đi tới Văn Thánh Miếu.

Dễ đi nhứt là từ đường Phạm Thái Bường, bo bùng binh để quẹo vô đường Trần Phú, chạy thẳng đến khi gặp cầu Chợ Cua thì quẹo trái (cũng là đường Trần Phú). Chạy thẳng qua cầu Chợ Cua chừng 500 thước là Văn Thánh Miếu, nằm mé trái của con đường, day mặt chánh về phía sông Long Hồ êm ả.

Hôm tôi đến là sáng sớm chủ nhựt, bên kia sông nhiều mái nhà nhấp nhô, khói củi hãy còn bay lờ đờ trong lớp sương sớm, dưới sông từng đợt ghe chở lúa trương chèo xuôi ngược theo dòng nước, chiếc nào chiếc nấy khẳm lừ nhìn rất thơ mộng.

IMG_4216

IMG_4204